Tâm lí học đại cương II (2)

Chương II: Các quá trình nhận thức
Bài 1: Cảm giác

I.Khái niệm về cảm giác
I.1. Khái niệm
Cảm giác là một quá trình nhận thức phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật hiện tượng khi chúng trực tiếp tác độngvào các giác quan của con người.
– Nhận thức là một quá trình phản ánh hiện thức khách quan vào trong đầu óc chúng ta. Phản ánh này từ thấp đến cao, trực tiếp đến gián tiếp
– Phản ánh là sự tương tác giữa thế giới khách quan vào não người và có để lại dấu vết.
– Cảm giác là quá trình nhận thức cảm tính trực tiếp ở mức độ thấp, sơ đẳng trong toàn bộ hoạt động nhận thức của con người.
II.2. Đặc điểm
– Là một quá trình nhận thức (có nảy sinh, diễn biến và kết thúc) có kích thích là bản thân các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan.
– Chỉ phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật, hiện tượng chứ không phản ánh được trọn vẹn các thuộc tính của sự vật, hiện tượng. Đặc điểm này cho thấy cảm giác là mức độ nhận thức thấp nhất của con người nói chung và của hoạt động nhận thức của con người nói riêng trong phản ánh hịên thực khách quan.
– Phản ánh hiện thực khách quan một cách trực tiếp, nghĩa là sự vật, hiện tượng phải trực tiếp tác động vào giác quan của ta thì mới tạo ra được cảm giác.
II.3. Bản chất của cảm giác
Cũng như những hiện tượng tâm lý khác, cảm giác của con người có bản chất xã hội, thể hịên ở những điểm sau:
– Đối tượng phản ánh của cảm giác ở con người khôngphải chỉ là những sự vật, hiện tượng vốn có trong tự nhiên, mà còn bao gồm cả những sản phẩm do lao động sáng tạo của con người tạo ra.
– Cơ chế sinh lý của cảm giác ở con người không chỉ giới hạn ở hệ thống tín hiệu thứ nhất, mà cả ở hệ thống tín hiệu thứ hai.
– Cảm giác của con người được phát triển mạnh mẽ và phong phú dưới ảnh hưởng của hoạt động và giáo dục ( vd: người thợ dệt có thể phân biệt được tới 60 màu đen khác nhau).
III. Tính nhạy cảm của cảm giác
III.1. Ngưỡng cảm giác
– Muốn có cảm giác thì phải có sự kích thích vào các giác quan và kích thích đó phải đạt tới một giới hạn nhất định. Giới hạn của cường độ mà ở đó kích thích gây ra cảm giác gọi là ngưỡng cảm giác.
– Cảm giác có hai ngưỡng: ngưỡng cảm giác phía trên và ngưỡng cảm giác phía dưới.
+ Ngưỡng cảm giác phía dưới là cường độ kích thích tối thiểu để gây ra được cảm giác. Ngưỡng cảm giác phía dưới còn gọi là ngưỡng tuyệt đối.
+ Ngưỡng cảm giác phía trên là cường độ kích thích tối đa mà ở đó vẫn còn gây ra được cảm giác.
– Mõi giác quan kích ứng với một loại kích thích nhất định và có những ngưỡng xác định.
VD: ngưỡng phía dưói của cảm giác nhìn ở ngoài là những sóng ánh sáng có bước sóng 360 miromet, ngưỡng phía trên là 780 mm. Ngoài hai giới hạn trên là những tia cực tím (từ ngoại) và cực đỏ (hống ngoại). mắt người không nhìn thấy được.
III.2. Đo tính nhạy cảm của giác quan
– Tính nhạy cảm của giác quan là năng lực phản ánh của giác quan đó với những tác động tối thiểu. Vật kích thích càng yếu mà gây ra được cảm giác thì năng lực của giác quan đó có tính nhạy cảm cao. Tính nhạy cảm đó có chỉ số bằng một đại lượng tỷ lệ nghịch với ngưỡng cảm giác phía dưới
– Công thức: E = 1 Trong đó: E- độ nhạy cảm của giác quan
P P- ngưỡng cảm giác
– Ngưỡng sai biệt cảu mỗi giác quan là một hằng số (đại lượng không thay đổi) nó cho biết cần phải tăng thêm phần độ lớn ban đầu kích để cảm giác nhận ra được sự biến đổi đó.
– Mức độ chênh lệch tối thiểu về cường độ hoặc tính chất của hai kích thích đủ để ta phân biệt được hai kích thích đó gọi là ngưỡng sai bịêt.
– Quy luật ngưỡng sai biệt do 2 nhà tâm lý học người Đức, Bughe – Vebe tìm ra:
k=

Trong đó P: là cường độ ban đầu của vật kích thich.
Ap: độ tăng của vật kích thích
k: ngưỡng sai biệt
IV. Sự thích ứng
– Sự thích ứng là khả năng thay đổi độ nhạy cảm của cảm giác cho phù hợp với sự thay đổi của cường độ kích thích, khi cường độ kích thích tăng thì giảm độ nhạy cảm, ngược lại, khi cường độ kích thích giảm thì tăng độ nhạy cảm.
VD: khi đang ở chỗ sáng (cường độ kích thích của ánh sáng mạnh) ta đi vào chỗ tối (cường độ kích thích yếu) thì lúc đàu ta không nhìn thấy gì, sau dần dần mớ thấy rõ (thích ứng). Trường hợp này đã xảy ra hiện tượng tăng độ nhạy cảm của giác nhìn.
– Quy luật thích ứng có ở tất cả các cảm giác, nhưng mức độ thích ứng khác nhau. Khả năng thích ứng của các cảm giác có thể phát triển do hoạt động và rèn luyện ( công nhân luyện kim có thể chịu đựng được nhiệt độ cao tới 50 – 60 tới hàng giờ đồng hồ….)
– Sự thích ứng của cơ quan cảm giác thị giác thường kéo dài đến hàng chục phút, sự thích ứng của thính giác là 15 giây, thíchứng của xúc giác xảy ra sau một vài giây trong đó có cảm giác nhiệt độ, sự thích ứng về khứu giác diễn ra khác nhau theo mùi trong không gian có thể tăng lên hay giảm đi, kích thích làm đau cơ thể thì không thể thích ứng được.
V. Các loại cảm giác
V.1. Căn vị trí của nguồn kích thích gây ra cảm giác nằm ở ngoài hay ở trong cơ thể, người ta chia cảm giác thành 2 nhóm lớn đó là cảm giác bên trong và cảm giác bên ngoài.
V.1.1. Cảm giác bên ngoài, bao gồm
– Cảm giác nhìn (thị giác)
– Cảm giác nghe (thính giác)
– Cảm giác ngửi (khứu giác)
– Cảm gáic nếm (vị giác)
– Cảm giác da (mạc giác), bao gồm: + cảm giác đụng chạm
+ cảm giác nén
+ cảm giác nóng
+ cảm giác lạnh
+ cảm giác đau
V.1.2. Cảm giác trong:
– Cảm giác vận động và sờ mó (cảm giác sờ mó là sự kết hợp giữa cảm giác đụng chạm và cảm giác vận động)
– Cảm giác thăng bằng
– Cảm giác cơ thể
– Cảm giác rung
V.2. Các loại cảm giác
V.2.1. Cảm giác nhìn
-Xuất hiện khi có bước sóng ánh sáng (sóng điện từ) phát ra từ các vật.
– Một số hiện tượng hoà màu trong tri giác nhìn: mắt phản ứng với ánh sáng có bước sóng từ 390 – 760 mm, nếu cường độ ánh sáng rất mạnh thì mắt có thể cảm thụ được bước sóng tới 950mmtrong vùng hồng ngoại, 313mm trong vùng tử ngoại của quang phổ. Mắt có tính nhạy cảm không đồng đều với các tia khác nhau trong quang phổ. Mắt có tính nhạy cảm cao nhất với tia màu vàng, với những tai màu đỏ hay tràm thì thấp hơn 40 lần. Cảm giác màu sắc chia thành 2 nhóm: nhóm không sắc (bao gồm: xám, đen, trắng..) và cảm giác màu sắc là những màu sắc còn lại. Ánh sáng mặt trời thường giúp chúng ta thụ cảm một loạt cảm giác các tia màu khác nhau. Ánh sáng có bước sóng khác nhau gây ra những cảm giác màu khác nhau. Ánh sáng có bước sóng khoảng 687mm cho ta cảm giác màu đỏ, 580mmc cho màu vàng, 527mm cho màu llục, 430mm cho màu tràm, 396mm cho màu tím. Mắt người nhạy cảm nhất với các tia sáng có bước sóng vào khoảng 565mm.
-Việc nhìn màu sắc do các tế bào nón đảm nhận ( tế bào nón nhạy cảm với ánh sáng mạnh, tế bào que nhạy cảm với ánh sáng mờ, yếu)
– Hiện tượng hoà màu tuân theo một định luật nhất định so Newton đưa ra: Hoà 2 màu sẽ được một màu mới trugn gian giữa hai màu kia và người ta gọi đó là màu bổ sung.
VD: tràm + đỏ = tím
VD: vàng + đỏ = da cam
– Sự hoà lẫn các màu là một quá trình xảy ra trên vở não. Trong tất cả các trường hợp mù màu săc thì cảm giác nhìn màu đều là màu sáng. Ngoài ra, còn có trường hợp mù màu từng phần. Hay gặp nhất là mù màu đỏ và lục. Những người bị bệnh này thường thụ cảm các màu cơ bản trên thành màu vàng. Các màu đỏ, da cam, vàng lục đều là màu vàng; các màu đỏ, cam, vàng, lục đều trở thành màu vàng. Họ sẽ nhìn thấy màu xanh lam với cãc màu đỏ, lam, tramg, tím…trong các dạng màu sắc thường gặp, màu đỏ và lục ở nam giới chiêms 4% và nữ giới chiếm 1,2%. Việc nghiên cứu về cảm giác nhìn màu sắc có ý nghĩa quan trọng trong tuyển chon người trong vị trí nghề nghiệp công việc đòi hỏi phân bịêt màu sắc bình thường.
V.2.2. Cảm giác nghe
– Tai có cấu tạo bao gồm” tai ngoài, tai giữa và tai trong.
– Cảm giác nghe được gây ra bởi tác động lên cơ quan thính giác do sự dao động (sóng âm) của các vật phát ra. Sóng âm là dao động của các phần tử trong không khí do sự va đập của các vật thể gây ra, các vật thể này là nguồn âm.
– Âm thanh có 2 loại: âm nhạc và tiếng ồn. Hoặc chia thành 2 loại: âm thuần và âm phức tạp.
+ Nhạc âm là những dao động âm có chu kỳ
+ Tiếng ồn là những dao động âm không có chu kỳ
+ Âm thuần được đặc trưng bởi một tần số của dao động
+ Âm phức tạp: khác nhau về thành phần của những dao động có những tần số và biên độ khác nhau.
– Cảm giác nghe của con người có khác nhau về độ cao, cường độ và âm sắc. Độ cao được xác định bằng số lượng dao động trong một giây tức là tấn số dao dộng càng lớn âm càng cao và ngược lại. Cảm giác nghe của người phản ứng với những âm trong giới hạn từ 16 000 – 20 000 dao động trên một giây. Những âm nằm dưới giới hạn cảm giác nghe (âm thấp gọi là ngoại âm và những âm những âm cao của giới hạn cảm giác nghe gọi là siêu âm).
– Tính nhạy cảm chênh lệch của cảm giác nghe của con người rất cao đặc biệt với những người có tính nhạy cảm cao về âm nhạc. Cường độ của cảm giác nghe gọi là độ vang. Tai người có nhạy cảm khác nhau đối với những độ cao khác nhau. Âm sắc là một cảm giác riêng biệt phân biệt những âm giống nhau về tần số, cường độ nhưng khác nhau về các thành phần dao động phụ.
– Âm thanh phụ thuộc vào thành phần phụ trong các âm đó, số lượng các âm sắc thường nhíều hơn so với những âm cơ bản. Âm phức tạp có sự khác bịêt rõ rệt trong tiếng ồn, trong đó các dao động không có tính chu kì. Thính giác của con người có khả năng phân bịêt với những âm phức tạp nhưng cần có sự rèn luyện.
– Cảm giác nghe còn định vị dược vị trí của vật kích thich trong không gian. Sở dĩ có được khả năng đinh vị này là nhờ sự hoạt động đồng thời của hai bán cầu đạo não, sự chênh lệch về thời gian âm đó đi đến mỗi tai gây kích thích hưng phấn đến mỗi bán cầu đại não. Do sự khác nhau về khoảng cách âm đến mỗi tai là tín hiệu chỉ hướng của âm.
V.2.3. Cảm giác da
– Cảm giác da được gây ra bởi tác động của của các vạt thể lên bề mặt da. Cảm giác da bao gồm: cảm giác sờ nó, cảm giác nhiệt độ, cảm giác đau
– Cảm giác sờ mó: cảm giác tiếp xúc, cảm giác nén, cảm giác rung, cảm giác ngứa.. cảm giác này xuất hiện khi kích thích vào những bộ máy thụ cảm nằm trên mặt da và trong những lớp da sâu. Ở từng vùng da khác nhau thì số lượng điểm tiếp xúc là nơi tập trung nhiều số lượng dây thần kinh thụ cảm là khác nhau. Điểm tiếp xúc nhiều nhất là các đầu ngón tay và đầu lưỡi. Cảm giác sờ mó liên quan đến các dây thần kinh được truyền từ bộ máy thụ cảm xúc giác đến vỏ não.
– Cảm giác da có khả năng định vị không gian của vật kích thích tác động vào da. Ở các vùng da khác nhau thì khả năng định vị cũng khác nhau, điều này phụ thuộc vào độ nhạy cảm trên da của các bộ phận khác nhau trên cơ thể.
+ Cảm giác nén (cảm giác sáp lực) xuất hiện khi có cảm giác tăng cường độ kích thích lên da và nó làm cho sự biến dạng của các lớp da khi cường độ kích thích của vật càng lớn thì độ biến dạng của các lớp da càng cao giúp cho con người nhận biết được sức nén hoặc áp lực của vật vào da.
+ Cảm giác rung xuất hiện khi vật kích thích tác động theo một chu kỳ nhất định. Cường độ rung đặc biệt phát triển ở những người câm hoặc điếc.
+ Cảm giác nhịêt độ là sự phản ánh mức độ nóng của của vật lên da khi vật có nhiệt độ khác với nhiệt độ da (người ta quy ước nhịêt độ da là độ O sinh lý). Cảm giác nhiệt độ gồm hai loại: cảm giác nóng và cảm giác lạnh
* Cảm giác nóng xuất hiện khi nhiệt dộ bên ngoài cao hơn độ 0 sinh lý
* Cảm giác lạnh xuất hiện nhiệt độ bên ngoài thấp hơn dộ 0 sinh lý
Trên bề mặt da các giác nóng lạnh ở các vùng da khác nhau là khác nhau.
+ Cảm giác đau xuất hiện khi vật kích thích tác động vào cơ thể trở thành tác nhân phá hoại cơ thể. Cảm giác đau là do những đàu dây thần kinh thụ cảm nằm sâu trong da và những xung động thần kinh đau sẽ truyền theo những sợi dây thần kinh riêng. Các phản ứng đau có liên quan tới các cảm giác đau và làm theo là hiện tượng co mạch máu trong cơ thể. Cảm giác đau được kìm hãm ở mức độ nhất định nhờ hệ thống tín hiệu thứ hai.
V.2.4. Cảm giác vị giác (cảm giác nếm)
– Cảm giác nếm xuất hiện khi có đặc điểm hoá học của chất hoà tan trong nước tác động lên cơ quan thụ cảm vị giác (bộ máy thụ cảm vị giác còn gọi là chồi vị giác) nằm ở lưỡi, mặt sau của hầu, vòm miệng, mặt thanh quản đặc biệt là ở lưỡi.
– Trong mỗi chồi vị giác có 2- 6 tế bào vị giác.
– Điều kịên cần thíêt để có xuất hiện cảm giác nếm là khi có sự hoà tan của các chất trong nước bọt và bộ máy thụ cảm vị giác thông qua sự thâm nhập của các chất vào ống vị giác đến các tế bào của chồi vị giác. Điều kiện thứ 2 để xuất hiện cảm giác nếm là vận động của lưỡi làm tăng thêm sự tiếp xúc của các chất trong miệng và giúp cho các chất đó hoà tan nhíều trong nước để tăng cường sự kích thích lên lưỡi. Điều kiện thứ 3 để xuất hiện cảm giác nếm là cảm giác nhịêt độ, cảm giác sờ mó, cảm giác ngửi cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xuất hiện vị giác.
– Cảm giác nếm chia thành 4 nhóm: chua; mặn; ngọt ; đắng
– Mỗi một vùng của lưỡi nhạy cảm với các chất khác nhau: ngọt ở đầu lưỡi;
chua ở hai bên mép lưỡi; đắng ở gốc lưỡi và mặn ở giữa lưỡi.
– Bộ máy thần kinh vị giác nằm ở vùng thái dương trên vỏ não.
– Ngoài ra vị giác còn bị ảnh hưởng bởi cách bày tí màu sắc..của vật tác động vào các giác quan; các thói quen ưa thích về thức ăn thời thơ ấu..
V.2.5. Cảm giác ngửi
– Đặc điểm hoá học của các chất trong không khí tác động vào dây thần kinh thụ cảm của các cơ quan khứu giác. Tế bào khứu giác nằm trong mô khứu giác, ở các nghách mũi trên. Mỗi tế bào được kéo dài ra thành một sợi dây thần kinh.
– Phần vỏ não của bộ máy phân tích khứu giác nằm ở vùng thái dương
– Các chất có thể thâm nhập qua lỗ mũi tác động vào các dây thần kinh khứu giác. Các mùi thường được gọi tên theo các vật vốn có các mùi đó như mùi táo, mùi hoa hồng, mùi hoa ngọc lan…. Hiện nay người ta chưa có sự phân biệt thoả đáng cho các mùi. Tuy nhiên, có khả năng phân biệt 10 000 mùi khác nhau và có khả năng nhớ khá tốt.
– Trong nhiều nghiên cứu cho thấy nữ có cảm giác mùi cao hơn nam giới. Trong trường hợp thính giác và thị giác tổn thương thì cảm giác mùi có vai trò đặt biệt quan trọng để nhận biết thế giới xung quanh.
V.2.6 Cảm giác vận động
Là cảm giác về sự vận động và vị trí của các cơ quan trong cơ thể và nó được gây ra bởi quá trình diễn ra trong các cơ quan khi vận động vị trí không gian của chúng thay đổi.
Cảm giác vận động có liên quan đến sức căng của các bắp thịt, cảm giác da, sự tác động vào đầu các dây thần kinh thụ cảm trong cơ thể gây ra vị trí của các cơ quan trong cơ thể.
Như vậy:
1. Cảm giác nhìn, nghe là hai giác quan quan trọng nhất của cơ thể giúp chúng ta nhận biết được thế giới bên ngoài, để thích nghi, tồn tại và duy trì sự sống. Con người khác con vật ở chỗ ngoài nhận biết thế giới khách quan để thích nghi, tồn tại và duy trì sự sống, con người còn có thể cải tạo mội trường sống nhằm đáp ứng như cầu cơ bản của con người đó là stồn tại và phát triển.
2. Cảm giác nghe, vận động, thăng bằng tập trung ở tai.
Các bộ phận chính của tai bao gồm tai ngoài, tai giữa, của sổ bầu dục của tai trong. Tai trong gồm: ốc tai, màng nhĩ của tai và tế bào lông.
3. Cảm giác thăng bằng có liên quan đến ống vành khuyên và sỏi của tai.
Khía cạnh vật lý của âm thanh bao gồm: tần số và cường độ, sự tác động của sóng âm gây ra cường độ và âm thanh.
4.Các cảm giác nếm, ngửi là cảm giác da có vai trò cung cấp thông tin ít hơn so với cảm giác nghe và nhìn. Tâm lý học tập trung nghiên cứu nhiều vào nguyên nhân gây ra đau và cách giảm đau.

V.2.7. Cảm giác đau
– Có rất nhiều thuyết về cảm giác đau trong đó có thuyết cảm giác cổng đau. Thuyết này cho biết cách kiểm soát các cơn đau có liên quan đến các vùng trên não khi các tế bào thần kinh thụ cảm bị chấn thương hay bệnh tật cua rmột số bộ phận trê cơ thể khi kích thích đó dẫn đến não sẽ tạo ra cảm giác đau. Hiện nay người ta đã nghiên cứu cách giảm bớt các cơn đau bằng cách bế cổng đau. Có hai cách bế cổng đau:
+ Cách 1: Ngăn chặn lối đi của đường dây thần kinh liên quan đến cơn đau bằng hình thức phát triển rộng khắp ra các vùng xung quanh cả những nơi chấn thương và ở tren vỏ não. Kích thích này tạo ra sự cạnh tranh xung quanh chỗ chấn thưong và nó làm giảm đau. (bằng cách xoa bóp vùng xung quanh chỗ chấn thương làm giảm đau)
+ Cách 2: Kích thích vào bộ não, não gửi thông tin xuống tuỷ sống đến vùng chấn thương làm cảm giác đau, kích thích vào não bằng thuốc hoặc tâm lý.
– Thuyết kiểm soát cảm đau đã giải thích nhiều về cảm giác đau liên quan mật thiết đến yếu tố cảm xúc và văn hoá. Cảm xúc tích cực và tiêu cực đóng vai trò quan trọng trong việc mở và làm bế tắc cổng đau.

Bình luận đã được đóng.

%d bloggers like this: