Tâm lí học đại cương II (1)

Chương I. Những vấn đề chung

I. Đối tượng, nhiệm vụ của tâm lý học
– Tâm lý học là bộ môn khoa học cơ bản trong hệ thống các khoa học về con người, đồng thời nó là bộ môn nghiệp vụ trong hệ thống các các khoa học tham gia vào việc đào tạo con người, hình thành nhân cách con người nói chung và nhân cách nghề nghiệp nói riêng.
– Nghiên cứu các hiện tượng tâm lý tinh thần nảy sinh từ thế giới khách quan, được phản ánh vào não người thông qua lăng kính chủ quan.
I.1. Đối tượng nghiên cứu
–  Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học là các hiện tượng tâm lý với tư cách là một hiện tượng tinh thần do thế giới khách quan tác động vào não con người sinh ra, gọi chung là các hoạt động tâm lý. Tâm lý học nghiên cứu sự hình thành, vận hành và phát triển của hoạt động tâm lý, các quy luật của hoạt động tâm lý và cơ chế tạo nên chúng.
I.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
– Nhiệm vụ cơ bản của tâm lý học là nghiên cứu bản chất hoạt động của tâm lý, các quy luật nảy sinh và phát triển tâm lý, cơ chế diễn biến và thể hiện tâm lý, quy luật về mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lý, cụ thể là nghiên cứu:

+ Những yếu tố khách quan, chủ quan nào đã tạo ra tâm lý người.
+ Tâm lý của con người hoạt động như thế nào?
+ Chức năng, vai trò của tâm lý đối với hoạt động của con người.

– Có thể nói lên các nhiệm vụ cụ thể của tâm lý học như sau:

+ Nghiên cứu bản chất của hoạt động tâm lý cả về mặt số lượng và chất lượng.
+ Phát hiện các quy luật hình thành, phát triển tâm lý.
+ Tìm ra cơ chế của các hiện tưọng tâm lý.

Trên cơ sở các thành tựu nghiên cứu, tâm lý học đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc hình thành, phát triển tâm lý, sử dụng nhân tố tâm lý trong nhân tố con người có hiệu quả nhất. Để thực hiện các nhiệm vụ nói trên, tâm lý học phải liên kết, phối hợp chặt chẽ với nhiều khoa học khác.
 II.Mối quan hệ giữa cái tự nhiên và cái xã hội trong sự phát triển tâm lý người
1. Tiền đề di truyền trong sự phát triển tâm lý nhân cách
– Khi sinh ra, cá nhân đã có sẵn những điều kiện bên trong đó là những đặc điểm di truyền tư chất được kế thừa ở những thế hệ trước để đảm bảo năng lực đáp ứng những đòi hỏi của những hoàn cảnh sống theo cơ chế định sẵn.
– Những đặc điểm di truyền: đặc điểm giải phẫu sinh lý cơ thể, chức năng tâm sinh lý của não, chức năng tâm sinh lý thần kinh…..là những tiền đề cho sự phát triển nhân cách.
Tất cả những tiền đề tự nhiên đó luôn gắn bó mật thiết với nhau, có những tác động từ thế giới bên ngoài vào con người. Từ tiền đề tự nhiên quyết định sự khác nhau về di truyền giữa người này với người khác.
Hiệu quả của hiện tượng tâm lý phụ thuộc và sự tác động qua lại lẫn nhau giữa những đặc điểm di truyền và sự tác động của điều kiện bên ngoài và bắt đầu từ những điều kiện bên ngoài tác động vào con người.
Các đặc điểm di truyền giữ vai trò đáng kể trong sự phát triển tâm lý nhân cách, là điều kiện cần thiết nhưng không phải là điều kiện đầy đủ cho sự phát triển tâm lý nhân cách con người.
II.2. Mối quan hệ giữa tâm lý và sinh lý trong sự phát triển nhân cách
– Hiện tượng tâm lý và sinh lý đều tham vào hoạt động của con người. Tuy nhiên, hoạt động sinh lý của người và động vật là khác nhau. Hoạt động bản năng của động vật được kế thừa theo con đường di truyền và có cơ sở sinh lý là các phản xạ không điều kiện nhằm để thích nghi với môi trường tự nhiên. Hoạt động của con người do các hiện tượng tâm lý điều khiển và nó được hình thành trên cơ sở mối quan hệ giữa phản xạ phản xạ có điều kiện và phản xạ có điều kiện trong những hoàn cảnh lịch sử xã hội nhất định. Các hiện tượng tâm lý đều xuất hiện trên cơ sở các hoạt động phản xạ của não và các hiện tượng tâm lý đều có mối quan hệ với các cơ chế sinh lý. Ngoài ra, các hiện tượng tâm lý còn có nội dung riêng của nó bởi vì con ngưòi vừa là thực thể tự nhiên vừa là một thực thể xã hội. Nội dung của các hiện tượng tâm lý phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người và xuất phát từ nhu cầu phục vụ xã hội.
– Các hiện tượng tâm lý và sinh lý đều nằm trong một hệ thống nhất định trong con người, chúng tác động qua lại lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau.
VD: hoảng sợ – thoát mồ hôi
VD: sợ hãi – co người lại
II.3. Đặc điểm xã hội – lịch sử của tâm lý người
– Con người là một thực thể tự nhiên

+ Con người là một bộ phận của giới tự nhiên, là kết quả của quá trình tiến hoá.
+ Sự phát triển của con người gắn liền với sự tiến hoá của tự nhiên.
+ Hoạt động của con người là sự tác động qua lại giữa cơ thể con người với thế giới tự nhiên.
+ Cuộc sống của con người phụ thuộc vào giới tự nhiên.

– Con người là một thực thể xã hội:

+ Con người khác các loài động vật khác là con người được sinh ra trong môi trường xã hội.
+ Con người sống trong sự liên kết với người khác trong môi trường xã hội.
+ Con người sử dụng kinh nghiệm của xã hội loài người để hoạt động và giao tiếp thông qua phương tiện ngôn ngữ.
+ Mỗi con người sống và hoạt động trong những hoàn cảnh xã hội – lịch sử nhất định, hoàn cảnh xã hội lịch sử đó nó quy định các hiện tượng tâm lý con người.
+ Các hiện tượng tâm lý con người là sự phẩn ánh hiện thực khách quan bao gồm thế giới tự nhiên và thế giới xã hội, trong đó thế giới xã hội là yếu tố quyết định bản chất tâm lý con người.

Bình luận đã được đóng.

%d bloggers like this: