<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/"
	>

<channel>
	<title>PSYCHOLOGY</title>
	<atom:link href="http://lethanhha78.wordpress.com/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://lethanhha78.wordpress.com</link>
	<description>learning2live</description>
	<lastBuildDate>Tue, 01 Apr 2008 09:54:31 +0000</lastBuildDate>
	<generator>http://wordpress.com/</generator>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<cloud domain='lethanhha78.wordpress.com' port='80' path='/?rsscloud=notify' registerProcedure='' protocol='http-post' />
<image>
		<url>http://www.gravatar.com/blavatar/786ed357b00618f1217b850e0b1bd5a1?s=96&#038;d=http://s.wordpress.com/i/buttonw-com.png</url>
		<title>PSYCHOLOGY</title>
		<link>http://lethanhha78.wordpress.com</link>
	</image>
			<item>
		<title>Tâm lí học đại cương II (2)</title>
		<link>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/04/01/tam-li-h%e1%bb%8dc-d%e1%ba%a1i-c%c6%b0%c6%a1ng-ii-2/</link>
		<comments>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/04/01/tam-li-h%e1%bb%8dc-d%e1%ba%a1i-c%c6%b0%c6%a1ng-ii-2/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 01 Apr 2008 09:41:15 +0000</pubDate>
		<dc:creator>lethanhha78</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tâm lí học đại cương]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://lethanhha78.wordpress.com/?p=14</guid>
		<description><![CDATA[Chương II: Các quá trình nhận thức
Bài 1: Cảm giác
I.Khái niệm về cảm giác
I.1. Khái niệm
Cảm giác là một quá trình nhận thức phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật hiện tượng khi chúng trực tiếp tác độngvào các giác quan của con người.
- Nhận thức là một quá trình [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lethanhha78.wordpress.com&blog=3320940&post=14&subd=lethanhha78&ref=&feed=1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div class='snap_preview'><br /><div align="center"><b><i>Chương II: Các quá trình nhận thức</i></b></div>
<div align="center"><u><b><i>Bài 1: Cảm giác</i></b></u></div>
<p><b><i>I.Khái niệm về cảm giác</i></b><br />
<b><i>I.1. Khái niệm</i></b><br />
<i>Cảm giác là một quá trình nhận thức phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật hiện tượng khi chúng trực tiếp tác độngvào các giác quan của con người.<br />
</i><span id="more-14"></span>- Nhận thức là một quá trình phản ánh hiện thức khách quan vào trong đầu óc chúng ta. Phản ánh này từ thấp đến cao, trực tiếp đến gián tiếp<br />
- Phản ánh là sự tương tác giữa thế giới khách quan vào não người và có để lại dấu vết.<br />
- Cảm giác là quá trình nhận thức cảm tính trực tiếp ở mức độ thấp, sơ đẳng trong toàn bộ hoạt động nhận thức của con người.<br />
<b><i>II.2. Đặc điểm</i></b><br />
- Là một quá trình nhận thức (có nảy sinh, diễn biến và kết thúc) có kích thích là bản thân các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan.<br />
- Chỉ phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật, hiện tượng chứ không phản ánh được trọn vẹn các thuộc tính của sự vật, hiện tượng. Đặc điểm này cho thấy cảm giác là mức độ nhận thức thấp nhất của con người nói chung và của hoạt động nhận thức của con người nói riêng trong phản ánh hịên thực khách quan.<br />
- Phản ánh hiện thực khách quan một cách trực tiếp, nghĩa là sự vật, hiện tượng phải trực tiếp tác động vào giác quan của ta thì mới tạo ra được cảm giác.<br />
<b><i>II.3. Bản chất của cảm giác</i></b><br />
Cũng như những hiện tượng tâm lý khác, cảm giác của con người có bản chất xã hội, thể hịên ở những điểm sau:<br />
- Đối tượng phản ánh của cảm giác ở con người khôngphải chỉ là những sự vật, hiện tượng vốn có trong tự nhiên, mà còn bao gồm cả những sản phẩm do lao động sáng tạo của con người tạo ra.<br />
- Cơ chế sinh lý của cảm giác ở con người không chỉ giới hạn ở hệ thống tín hiệu thứ nhất, mà cả ở hệ thống tín hiệu thứ hai.<br />
- Cảm giác của con người được phát triển mạnh mẽ và phong phú dưới ảnh hưởng của hoạt động và giáo dục ( vd: người thợ dệt có thể phân biệt được tới 60 màu đen khác nhau).<br />
<b><i>III. Tính nhạy cảm của cảm giác</i></b><br />
<b><i>III.1. Ngưỡng cảm giác</i></b><br />
- Muốn có cảm giác thì phải có sự kích thích vào các giác quan và kích thích đó phải đạt tới một giới hạn nhất định. <i>Giới hạn của cường độ mà ở đó kích thích gây ra cảm giác gọi là ngưỡng cảm giác</i>.<br />
- Cảm giác có hai ngưỡng: ngưỡng cảm giác phía trên và ngưỡng cảm giác phía dưới.<br />
+ <i>Ngưỡng cảm giác phía dưới</i> là cường độ kích thích tối thiểu để gây ra được cảm giác. Ngưỡng cảm giác phía dưới còn gọi là ngưỡng tuyệt đối.<br />
+ <i>Ngưỡng cảm giác phía trên</i> là cường độ kích thích tối đa mà ở đó vẫn còn gây ra được cảm giác.<br />
- Mõi giác quan kích ứng với một loại kích thích nhất định và có những ngưỡng xác định.<br />
VD: ngưỡng phía dưói của cảm giác nhìn ở ngoài là những sóng ánh sáng có bước sóng 360 miromet, ngưỡng phía trên là 780 mm. Ngoài hai giới hạn trên là những tia cực tím (từ ngoại) và cực đỏ (hống ngoại). mắt người không nhìn thấy được.<br />
<b><i>III.2. Đo tính nhạy cảm của giác quan</i></b><br />
- Tính nhạy cảm của giác quan là năng lực phản ánh của giác quan đó với những tác động tối thiểu. Vật kích thích càng yếu mà gây ra được cảm giác thì năng lực của giác quan đó có tính nhạy cảm cao. Tính nhạy cảm đó có chỉ số bằng một đại lượng tỷ lệ nghịch với ngưỡng cảm giác phía dưới<br />
- Công thức:    E = 1      Trong đó: E- độ nhạy cảm của giác quan<br />
P         P- ngưỡng cảm giác<br />
- Ngưỡng sai biệt cảu mỗi giác quan là một hằng số (đại lượng không thay đổi) nó cho biết cần phải tăng thêm phần độ lớn ban đầu kích để cảm giác nhận ra được sự biến đổi đó.<br />
- Mức độ chênh lệch tối thiểu về cường độ hoặc tính chất của hai kích thích đủ để ta phân biệt được hai kích thích đó gọi là ngưỡng sai bịêt.<br />
- Quy luật ngưỡng sai biệt do 2 nhà tâm lý học người Đức, Bughe – Vebe tìm ra:<br />
k=</p>
<p>Trong đó P: là cường độ ban đầu của vật kích thich.<br />
Ap: độ tăng của vật kích thích<br />
k: ngưỡng sai biệt<br />
<i><b>IV. Sự thích ứng</b></i><br />
- Sự thích ứng là khả năng thay đổi độ nhạy cảm của cảm giác cho phù hợp với sự thay đổi của cường độ kích thích, khi cường độ kích thích tăng thì giảm độ nhạy cảm, ngược lại, khi cường độ kích thích giảm thì tăng độ nhạy cảm.<br />
VD: khi đang ở chỗ sáng (cường độ kích thích của ánh sáng mạnh) ta đi vào chỗ tối (cường độ kích thích yếu) thì lúc đàu ta không nhìn thấy gì, sau dần dần mớ thấy rõ (thích ứng). Trường hợp này đã xảy ra hiện tượng tăng độ nhạy cảm của giác nhìn.<br />
- Quy luật thích ứng có ở tất cả các cảm giác, nhưng mức độ thích ứng khác nhau. Khả năng thích ứng của các cảm giác có thể phát triển do hoạt động và rèn luyện ( công nhân luyện kim có thể chịu đựng được nhiệt độ cao tới 50 – 60 tới hàng giờ đồng hồ….)<br />
- Sự thích ứng của cơ quan cảm giác thị giác thường kéo dài đến hàng chục phút, sự thích ứng của thính giác là 15 giây, thíchứng của xúc giác xảy ra sau một vài giây trong  đó có cảm giác nhiệt độ, sự thích ứng về khứu giác diễn ra khác nhau theo mùi trong không gian có thể tăng lên hay giảm đi, kích thích làm đau cơ thể thì không thể thích ứng được.<br />
<b><i>V. Các loại cảm giác</i></b><br />
<i>V.1. Căn vị trí của nguồn kích thích</i> gây ra cảm giác nằm ở ngoài hay ở trong cơ thể, người ta chia cảm giác thành 2 nhóm lớn đó là cảm giác bên trong và cảm giác bên ngoài.<br />
<i>V.1.1. Cảm giác bên ngoài, bao gồm</i><br />
- Cảm giác nhìn (thị giác)<br />
- Cảm giác nghe (thính giác)<br />
- Cảm giác ngửi (khứu giác)<br />
- Cảm gáic nếm (vị giác)<br />
- Cảm giác da (mạc giác), bao gồm: + cảm giác đụng chạm<br />
+ cảm giác nén<br />
+ cảm giác nóng<br />
+ cảm giác lạnh<br />
+ cảm giác đau<br />
<i>V.1.2. Cảm giác trong:</i><br />
- Cảm giác vận động và sờ mó (cảm giác sờ mó là sự kết hợp giữa cảm giác đụng chạm và cảm giác vận động)<br />
- Cảm giác thăng bằng<br />
- Cảm giác cơ thể<br />
- Cảm giác rung<br />
<b><i>V.2. Các loại cảm giác</i></b><br />
<b><i>V.2.1. Cảm giác nhìn</i></b><br />
-Xuất hiện khi có bước sóng ánh sáng (sóng điện từ) phát ra từ các vật.<br />
- Một số hiện tượng hoà màu trong tri giác nhìn: mắt phản ứng với ánh sáng có bước sóng từ 390 – 760 mm, nếu cường độ ánh sáng rất mạnh thì mắt có thể cảm thụ được bước sóng tới 950mmtrong vùng hồng ngoại, 313mm trong vùng tử ngoại của quang phổ. Mắt có tính nhạy cảm không đồng đều với các tia khác nhau trong quang phổ. Mắt có tính nhạy cảm cao nhất với tia màu vàng, với những tai màu đỏ hay tràm thì thấp hơn 40 lần. Cảm giác màu sắc chia thành 2 nhóm: nhóm không sắc (bao gồm: xám, đen, trắng..) và cảm giác màu sắc là những màu sắc còn lại. Ánh sáng mặt trời thường giúp chúng ta thụ cảm một loạt cảm giác các tia màu khác nhau. Ánh sáng có bước sóng khác nhau gây ra những cảm giác màu khác nhau. Ánh sáng có bước sóng khoảng 687mm cho ta cảm giác màu đỏ, 580mmc cho màu vàng, 527mm cho màu llục, 430mm cho màu tràm, 396mm cho màu tím. Mắt người nhạy cảm nhất với các tia sáng có bước sóng vào khoảng 565mm.<br />
-Việc nhìn màu sắc do các tế bào nón đảm nhận ( tế bào nón nhạy cảm với ánh sáng mạnh, tế bào que nhạy cảm với ánh sáng mờ, yếu)<br />
- Hiện tượng hoà màu tuân theo một định luật nhất định so Newton đưa ra: Hoà 2 màu sẽ được một màu mới trugn gian giữa hai màu kia và người ta gọi đó là màu bổ sung.<br />
VD: tràm + đỏ = tím<br />
VD: vàng + đỏ = da cam<br />
- Sự hoà lẫn các màu là một quá trình xảy ra trên vở não. Trong tất cả các trường hợp mù màu săc thì cảm giác nhìn màu đều là màu sáng. Ngoài ra, còn có trường hợp mù màu từng phần. Hay gặp nhất là mù màu đỏ và lục. Những người bị bệnh này thường thụ cảm các màu cơ bản trên thành màu vàng. Các màu đỏ, da cam, vàng lục đều là màu vàng; các màu đỏ, cam, vàng, lục đều trở thành màu vàng. Họ sẽ nhìn thấy màu xanh lam với cãc màu đỏ, lam, tramg, tím…trong các dạng màu sắc thường gặp, màu đỏ và lục ở nam giới chiêms 4% và nữ giới chiếm 1,2%. Việc nghiên cứu về cảm giác nhìn màu sắc có ý nghĩa quan trọng trong tuyển chon người trong vị trí nghề nghiệp công việc đòi hỏi phân bịêt màu sắc bình thường.<br />
<b><i>V.2.2. Cảm giác nghe</i></b><br />
- Tai có cấu tạo bao gồm” tai ngoài, tai giữa và tai trong.<br />
- Cảm giác nghe được gây ra bởi tác động lên cơ quan thính giác do sự dao động (sóng âm) của các vật phát ra. Sóng âm là dao động của các phần tử trong không khí do sự va đập của các vật thể gây ra, các vật thể này là nguồn âm.<br />
- Âm thanh có 2 loại: âm nhạc và tiếng ồn. Hoặc chia thành 2 loại: âm thuần và âm phức tạp.<br />
+ Nhạc âm là những dao động âm có chu kỳ<br />
+ Tiếng ồn là những dao động âm không có chu kỳ<br />
+ Âm thuần được đặc trưng bởi một tần số của dao động<br />
+ Âm phức tạp: khác nhau về thành phần của những dao động có những tần số và biên độ khác nhau.<br />
- Cảm giác nghe của con người có khác nhau về độ cao, cường độ và âm sắc. Độ cao được xác định bằng số lượng dao động trong một giây tức là tấn số dao dộng càng lớn âm càng cao và ngược lại. Cảm giác nghe của người phản ứng với những âm trong giới hạn từ 16 000 – 20 000 dao động trên một giây. Những âm nằm dưới giới hạn cảm giác nghe (âm thấp gọi là ngoại âm và những âm những âm cao của giới hạn cảm giác nghe gọi là siêu âm).<br />
- Tính nhạy cảm chênh lệch của cảm giác nghe của con người rất cao đặc biệt với những người có tính nhạy cảm cao về âm nhạc. Cường độ của cảm giác nghe gọi là độ vang. Tai người có nhạy cảm khác nhau đối với những độ cao khác nhau. Âm sắc là một cảm giác riêng biệt phân biệt những âm giống nhau về tần số, cường độ nhưng khác nhau về các thành phần dao động phụ.<br />
- Âm thanh phụ thuộc vào thành phần phụ trong các âm đó, số lượng các âm sắc thường nhíều hơn so với những âm cơ bản. Âm phức tạp có sự khác bịêt rõ rệt trong tiếng ồn, trong đó các dao động không có tính chu kì. Thính giác của con người có khả năng phân bịêt với những âm phức tạp nhưng cần có sự rèn luyện.<br />
- Cảm giác nghe còn định vị dược vị trí của vật kích thich trong không gian. Sở dĩ có được khả năng đinh vị này là nhờ sự hoạt động đồng thời của hai bán cầu đạo não, sự chênh lệch về thời gian âm đó đi đến mỗi tai gây kích thích hưng phấn đến mỗi bán cầu đại não. Do sự khác nhau về khoảng cách âm đến mỗi tai là tín hiệu chỉ hướng của âm.<br />
<b><i>V.2.3. Cảm giác da</i></b><br />
- Cảm giác da được gây ra bởi tác động của của các vạt thể lên bề mặt da. Cảm giác da bao gồm: cảm giác sờ nó, cảm giác nhiệt độ, cảm giác đau<br />
- Cảm giác sờ mó: cảm giác tiếp xúc, cảm giác nén, cảm giác rung, cảm giác ngứa.. cảm giác này xuất hiện khi kích thích vào những bộ máy thụ cảm nằm trên mặt da và trong những lớp da sâu. Ở từng vùng da khác nhau thì số lượng điểm tiếp xúc là nơi tập trung nhiều số lượng dây thần kinh thụ cảm là khác nhau. Điểm tiếp xúc nhiều nhất là các đầu ngón tay và đầu lưỡi. Cảm giác sờ mó liên quan đến các dây thần kinh được truyền từ bộ máy thụ cảm xúc giác đến vỏ não.<br />
- Cảm giác da có khả năng định vị không gian của vật kích thích tác động vào da. Ở các vùng da khác nhau thì khả năng định vị cũng khác nhau, điều này phụ thuộc vào độ nhạy cảm trên da của các bộ phận khác nhau trên cơ thể.<br />
+ Cảm giác nén (cảm giác sáp lực) xuất hiện khi có cảm giác tăng cường độ kích thích lên da và nó làm cho sự biến dạng của các lớp da khi cường độ kích thích của vật càng lớn thì độ biến dạng của các lớp da càng cao giúp cho con người nhận biết được sức nén hoặc áp lực của vật vào da.<br />
+ Cảm giác rung xuất hiện khi vật kích thích tác động theo một chu kỳ nhất định. Cường độ rung đặc biệt phát triển ở những người câm hoặc điếc.<br />
+ Cảm giác nhịêt độ là sự phản ánh mức độ nóng của của vật lên da khi vật có nhiệt độ khác với nhiệt độ da (người ta quy ước nhịêt độ da là độ O sinh lý). Cảm giác nhiệt độ gồm hai loại: cảm giác nóng và cảm giác lạnh<br />
* Cảm giác nóng xuất hiện khi nhiệt dộ bên ngoài cao hơn độ 0 sinh lý<br />
* Cảm giác lạnh xuất hiện nhiệt độ bên ngoài thấp hơn dộ 0 sinh lý<br />
Trên bề mặt da các giác nóng lạnh ở các vùng da khác nhau là khác nhau.<br />
+ Cảm giác đau xuất hiện khi vật kích thích tác động vào cơ thể trở thành tác nhân phá hoại cơ thể. Cảm giác đau là do những đàu dây thần kinh thụ cảm nằm sâu trong da và những xung động thần kinh đau sẽ truyền theo những sợi dây thần kinh riêng. Các phản ứng đau có liên quan tới các cảm giác đau và làm theo là hiện tượng co mạch máu trong cơ thể. Cảm giác đau được kìm hãm ở mức độ nhất định nhờ hệ thống tín hiệu thứ hai.<br />
<b><i>V.2.4. Cảm giác vị giác (cảm giác nếm)</i></b><br />
- Cảm giác nếm xuất hiện khi có đặc điểm hoá học của chất hoà tan trong nước tác động lên cơ quan thụ cảm vị giác (bộ máy thụ cảm vị giác còn gọi là chồi vị giác) nằm ở lưỡi, mặt sau của hầu, vòm miệng, mặt thanh quản đặc biệt là ở lưỡi.<br />
- Trong mỗi chồi vị giác có 2- 6 tế bào vị giác.<br />
- Điều kịên cần thíêt để có xuất hiện cảm giác nếm là khi có sự hoà tan của các chất trong nước bọt và bộ máy thụ cảm vị giác thông qua sự thâm nhập của các chất vào ống vị giác đến các tế bào của chồi vị giác. Điều kiện thứ 2 để xuất hiện cảm giác nếm là vận động của lưỡi làm tăng thêm sự tiếp xúc của các chất trong miệng và giúp cho các chất đó hoà tan nhíều trong nước để tăng cường sự kích thích lên lưỡi. Điều kiện thứ 3 để xuất hiện cảm giác nếm là cảm giác nhịêt độ, cảm giác sờ mó, cảm giác ngửi cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xuất hiện vị giác.<br />
- Cảm giác nếm chia thành 4 nhóm:  chua; mặn; ngọt ; đắng<br />
- Mỗi một vùng của lưỡi nhạy cảm với các chất khác nhau: ngọt ở đầu lưỡi;<br />
chua ở hai bên mép lưỡi; đắng ở gốc lưỡi và mặn ở giữa lưỡi.<br />
- Bộ máy thần kinh vị giác nằm ở vùng thái dương trên vỏ não.<br />
- Ngoài ra vị giác còn bị ảnh hưởng bởi cách bày tí màu sắc..của vật tác động vào các giác quan; các thói quen ưa thích về thức ăn thời thơ ấu..<br />
<b><i>V.2.5. Cảm giác ngửi</i></b><br />
- Đặc điểm hoá học của các chất trong không khí tác động vào dây thần kinh thụ cảm của các cơ quan khứu giác. Tế bào khứu giác nằm trong mô khứu giác, ở các nghách mũi trên. Mỗi tế bào được kéo dài ra thành một sợi dây thần kinh.<br />
- Phần vỏ não của bộ máy phân tích khứu giác nằm ở vùng thái dương<br />
-  Các chất có thể thâm nhập qua lỗ mũi tác động vào các dây thần kinh khứu giác. Các mùi thường được gọi tên theo các vật vốn có các mùi đó như mùi táo, mùi hoa hồng, mùi hoa ngọc lan…. Hiện nay người ta chưa có sự phân biệt thoả đáng cho các mùi. Tuy nhiên, có khả năng phân biệt 10 000 mùi khác nhau và có khả năng nhớ khá tốt.<br />
- Trong nhiều nghiên cứu cho thấy nữ có cảm giác mùi cao hơn nam giới. Trong trường hợp thính giác và thị giác tổn thương thì cảm giác mùi có vai trò đặt biệt quan trọng để nhận biết thế giới xung quanh.<br />
<b><i>V.2.6 Cảm giác vận động</i></b><br />
Là cảm giác về sự vận động và vị trí của các cơ quan trong cơ thể và nó được gây ra bởi quá trình diễn ra trong các cơ quan khi vận động vị trí không gian của chúng thay đổi.<br />
Cảm giác vận động có liên quan đến sức căng của các bắp thịt, cảm giác da, sự tác động vào đầu các dây thần kinh thụ cảm trong cơ thể gây ra vị trí của các cơ quan trong cơ thể.<br />
Như vậy:<br />
<i>1.   Cảm giác nhìn, nghe là hai giác quan quan trọng nhất của cơ thể giúp chúng ta nhận biết được thế giới bên ngoài, để thích nghi, tồn tại và duy trì sự sống. Con người khác con vật ở chỗ ngoài nhận biết thế giới khách quan để thích nghi, tồn tại và duy trì sự sống, con người còn có thể cải tạo mội trường sống nhằm đáp ứng như cầu cơ bản của con người đó là stồn tại và phát triển.<br />
2. Cảm giác nghe, vận động, thăng bằng tập trung ở tai.<br />
Các bộ phận chính của tai bao gồm tai ngoài, tai giữa, của sổ bầu dục của tai  trong. Tai trong gồm: ốc tai, màng nhĩ của tai và tế bào lông.<br />
3. Cảm giác thăng bằng có liên quan đến ống vành khuyên và sỏi của tai.<br />
Khía cạnh vật lý của âm thanh bao gồm: tần số và cường độ, sự tác động của sóng âm gây ra cường độ và âm thanh.<br />
4.Các cảm giác nếm, ngửi là cảm giác da có vai trò cung cấp thông tin ít hơn so với cảm giác nghe và nhìn. Tâm lý học tập trung nghiên cứu nhiều vào nguyên nhân gây ra đau và cách giảm đau.</i><br />
<b><i>V.2.7. Cảm giác đau</i></b><br />
- Có rất nhiều thuyết về cảm giác đau trong đó có thuyết cảm giác cổng đau. Thuyết này cho biết cách kiểm soát các cơn đau có liên quan đến các vùng trên não khi các tế bào thần kinh thụ cảm bị chấn thương hay bệnh tật cua rmột số bộ phận trê cơ thể khi kích thích đó dẫn đến não  sẽ tạo ra cảm giác đau. Hiện nay người ta đã nghiên cứu cách giảm bớt các cơn đau bằng cách bế cổng đau. Có hai cách bế cổng đau:<br />
+ Cách 1: Ngăn chặn lối đi của đường dây thần kinh liên quan đến cơn đau bằng hình thức phát triển rộng khắp ra các vùng xung quanh cả những nơi chấn thương và ở tren vỏ não. Kích thích này tạo ra sự cạnh tranh xung quanh chỗ chấn thưong và nó làm giảm đau. (bằng cách xoa bóp vùng xung quanh chỗ chấn thương làm giảm đau)<br />
+ Cách 2: Kích thích vào bộ não, não gửi thông tin xuống tuỷ sống đến vùng chấn thương làm cảm giác đau, kích thích vào não bằng thuốc hoặc tâm lý.<br />
- Thuyết kiểm soát cảm đau đã giải thích nhiều về cảm giác đau liên quan mật thiết đến yếu tố cảm xúc và văn hoá. Cảm xúc tích cực và tiêu cực đóng vai trò quan trọng trong việc mở và làm bế tắc cổng đau.</p>
<img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/categories/lethanhha78.wordpress.com/14/" /> <img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/tags/lethanhha78.wordpress.com/14/" /> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/lethanhha78.wordpress.com/14/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/lethanhha78.wordpress.com/14/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/lethanhha78.wordpress.com/14/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/lethanhha78.wordpress.com/14/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/lethanhha78.wordpress.com/14/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/lethanhha78.wordpress.com/14/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/lethanhha78.wordpress.com/14/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/lethanhha78.wordpress.com/14/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/lethanhha78.wordpress.com/14/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/lethanhha78.wordpress.com/14/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lethanhha78.wordpress.com&blog=3320940&post=14&subd=lethanhha78&ref=&feed=1" /></div>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/04/01/tam-li-h%e1%bb%8dc-d%e1%ba%a1i-c%c6%b0%c6%a1ng-ii-2/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/57b2b0783f1c7e9f50d45a7ef6e580d9?s=96&#38;d=identicon" medium="image">
			<media:title type="html">lethanhha78</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Tâm lí học đại cương II (1)</title>
		<link>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/04/01/tam-li-h%e1%bb%8dc-d%e1%ba%a1i-c%c6%b0%c6%a1ng-ii-1/</link>
		<comments>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/04/01/tam-li-h%e1%bb%8dc-d%e1%ba%a1i-c%c6%b0%c6%a1ng-ii-1/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 01 Apr 2008 09:36:01 +0000</pubDate>
		<dc:creator>lethanhha78</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tâm lí học đại cương]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://lethanhha78.wordpress.com/?p=13</guid>
		<description><![CDATA[Chương I. Những vấn đề chung
I. Đối tượng, nhiệm vụ của tâm lý học
- Tâm lý học là bộ môn khoa học cơ bản trong hệ thống các khoa học về con người, đồng thời nó là bộ môn nghiệp vụ trong hệ thống các các khoa học tham gia vào việc đào tạo con [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lethanhha78.wordpress.com&blog=3320940&post=13&subd=lethanhha78&ref=&feed=1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div class='snap_preview'><br /><div align="center"><b>Chương I. Những vấn đề chung</b></div>
<p><i><b>I. Đối tượng, nhiệm vụ của tâm lý học</b></i><br />
- Tâm lý học là bộ môn khoa học cơ bản trong hệ thống các khoa học về con người, đồng thời nó là bộ môn nghiệp vụ trong hệ thống các các khoa học tham gia vào việc đào tạo con người, hình thành nhân cách con người nói chung và nhân cách nghề nghiệp nói riêng.<br />
- Nghiên cứu các hiện tượng tâm lý tinh thần nảy sinh từ thế giới khách quan, được phản ánh vào não người thông qua lăng kính chủ quan.<br />
<span id="more-13"></span><i><b>I.1. Đối tượng nghiên cứu</b></i><br />
-  Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học là các hiện tượng tâm lý với tư cách là một hiện tượng tinh thần do thế giới khách quan tác động vào não con người sinh ra, gọi chung là các hoạt động tâm lý. Tâm lý học nghiên cứu sự hình thành, vận hành và phát triển của hoạt động tâm lý, các quy luật của hoạt động tâm lý và cơ chế tạo nên chúng.<br />
<b><i>I.2. Nhiệm vụ nghiên cứu</i></b><br />
- Nhiệm vụ cơ bản của tâm lý học là nghiên cứu bản chất hoạt động của tâm lý, các quy luật nảy sinh và phát triển tâm lý, cơ chế diễn biến và thể hiện tâm lý, quy luật về mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lý, cụ thể là nghiên cứu:</p>
<blockquote><p>+ Những yếu tố khách quan, chủ quan nào đã tạo ra tâm lý người.<br />
+ Tâm lý của con người hoạt động như thế nào?<br />
+ Chức năng, vai trò của tâm lý đối với hoạt động của con người.</p></blockquote>
<p>- Có thể nói lên các nhiệm vụ cụ thể của tâm lý học như sau:</p>
<blockquote><p>+ Nghiên cứu bản chất của hoạt động tâm lý cả về mặt số lượng và chất lượng.<br />
+ Phát hiện các quy luật hình thành, phát triển tâm lý.<br />
+ Tìm ra cơ chế của các hiện tưọng tâm lý.</p></blockquote>
<p>Trên cơ sở các thành tựu nghiên cứu, tâm lý học đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc hình thành, phát triển tâm lý, sử dụng nhân tố tâm lý trong nhân tố con người có hiệu quả nhất. Để thực hiện các nhiệm vụ nói trên, tâm lý học phải liên kết, phối hợp chặt chẽ với nhiều khoa học khác.<br />
<i><b> II.Mối quan hệ giữa cái tự nhiên và cái xã hội trong sự phát triển tâm lý người</b></i><br />
<b><i>1. Tiền đề di truyền trong sự phát triển tâm lý nhân cách</i></b><br />
- Khi sinh ra, cá nhân đã có sẵn những điều kiện bên trong đó là những đặc điểm di truyền tư chất được kế thừa ở những thế hệ trước để đảm bảo năng lực đáp ứng những đòi hỏi của những hoàn cảnh sống theo cơ chế định sẵn.<br />
- Những đặc điểm di truyền: đặc điểm giải phẫu sinh lý cơ thể, chức năng tâm sinh lý của não, chức năng tâm sinh lý thần kinh…..là những tiền đề cho sự phát triển nhân cách.<br />
Tất cả những tiền đề tự nhiên đó luôn gắn bó mật thiết với nhau, có những tác động từ thế giới bên ngoài vào con người. Từ tiền đề tự nhiên quyết định sự khác nhau về di truyền giữa người này với người khác.<br />
Hiệu quả của hiện tượng tâm lý phụ thuộc và sự tác động qua lại lẫn nhau giữa những đặc điểm di truyền và sự tác động của điều kiện bên ngoài và bắt đầu từ những điều kiện bên ngoài tác động vào con người.<br />
Các đặc điểm di truyền giữ vai trò đáng kể trong sự phát triển tâm lý nhân cách, là điều kiện cần thiết nhưng không phải là điều kiện đầy đủ cho sự phát triển tâm lý nhân cách con người.<br />
<b><i>II.2. Mối quan hệ giữa tâm lý và sinh lý trong sự phát triển nhân cách</i></b><br />
- Hiện tượng tâm lý và sinh lý đều tham vào hoạt động của con người. Tuy nhiên, hoạt động sinh lý của người và động vật là khác nhau. Hoạt động bản năng của động vật được kế thừa theo con đường di truyền và có cơ sở sinh lý là các phản xạ không điều kiện nhằm để thích nghi với môi trường tự nhiên. Hoạt động của con người do các hiện tượng tâm lý điều khiển và nó được hình thành trên cơ sở mối quan hệ giữa phản xạ phản xạ có điều kiện và phản xạ có điều kiện trong những hoàn cảnh lịch sử xã hội nhất định. Các hiện tượng tâm lý đều xuất hiện trên cơ sở các hoạt động phản xạ của não và các hiện tượng tâm lý đều có mối quan hệ với các cơ chế sinh lý. Ngoài ra, các hiện tượng tâm lý còn có nội dung riêng của nó bởi vì con ngưòi vừa là thực thể tự nhiên vừa là một thực thể xã hội. Nội dung của các hiện tượng tâm lý phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người và xuất phát từ nhu cầu phục vụ xã hội.<br />
- Các hiện tượng tâm lý và sinh lý đều nằm trong một hệ thống nhất định trong con người, chúng tác động qua lại lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau.<br />
VD: hoảng sợ &#8211; thoát mồ hôi<br />
VD: sợ hãi – co người lại<br />
<i><b>II.3. Đặc điểm xã hội &#8211; lịch sử của tâm lý người</b></i><br />
<b><i>- Con người là một thực thể tự nhiên</i></b></p>
<blockquote><p>+ Con người là một bộ phận của giới tự nhiên, là kết quả của quá trình tiến hoá.<br />
+ Sự phát triển của con người gắn liền với sự tiến hoá của tự nhiên.<br />
+ Hoạt động của con người là sự tác động qua lại giữa cơ thể con người với thế giới tự nhiên.<br />
+ Cuộc sống của con người phụ thuộc vào giới tự nhiên.</p></blockquote>
<p><b><i>- Con người là một thực thể xã hội:</i></b></p>
<blockquote><p>+ Con người khác các loài động vật khác là con người được sinh ra trong môi trường xã hội.<br />
+ Con người sống trong sự liên kết với người khác trong môi trường xã hội.<br />
+ Con người sử dụng kinh nghiệm của xã hội loài người để hoạt động và giao tiếp thông qua phương tiện ngôn ngữ.<br />
+ Mỗi con người sống và hoạt động trong những hoàn cảnh xã hội &#8211; lịch sử nhất định, hoàn cảnh xã hội lịch sử đó nó quy định các hiện tượng tâm lý con người.<br />
+ Các hiện tượng tâm lý con người là sự phẩn ánh hiện thực khách quan bao gồm thế giới tự nhiên và thế giới xã hội, trong đó thế giới xã hội là yếu tố quyết định bản chất tâm lý con người.</p></blockquote>
<img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/categories/lethanhha78.wordpress.com/13/" /> <img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/tags/lethanhha78.wordpress.com/13/" /> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/lethanhha78.wordpress.com/13/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/lethanhha78.wordpress.com/13/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/lethanhha78.wordpress.com/13/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/lethanhha78.wordpress.com/13/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/lethanhha78.wordpress.com/13/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/lethanhha78.wordpress.com/13/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/lethanhha78.wordpress.com/13/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/lethanhha78.wordpress.com/13/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/lethanhha78.wordpress.com/13/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/lethanhha78.wordpress.com/13/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lethanhha78.wordpress.com&blog=3320940&post=13&subd=lethanhha78&ref=&feed=1" /></div>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/04/01/tam-li-h%e1%bb%8dc-d%e1%ba%a1i-c%c6%b0%c6%a1ng-ii-1/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/57b2b0783f1c7e9f50d45a7ef6e580d9?s=96&#38;d=identicon" medium="image">
			<media:title type="html">lethanhha78</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>TRÍ TUỆ CẢM XÚC</title>
		<link>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/03/31/tri-tu%e1%bb%86-c%e1%ba%a2m-xuc/</link>
		<comments>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/03/31/tri-tu%e1%bb%86-c%e1%ba%a2m-xuc/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 31 Mar 2008 12:16:07 +0000</pubDate>
		<dc:creator>lethanhha78</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tâm lí học đại cương]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://lethanhha78.wordpress.com/2008/03/31/tri-tu%e1%bb%86-c%e1%ba%a2m-xuc/</guid>
		<description><![CDATA[Cảm xúc thường thoát khỏi sự kiểm soát của bạn ? Như vậy là khi còn nhỏ bạn đã không được học cách kiềm chế nó. Vậy thì bây giờ bạn hãy tự học. Nó đơn giản hơn là bạn nghĩ. Khi bạn phải nhanh chóng quyết định một điều gì và phải làm điều [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lethanhha78.wordpress.com&blog=3320940&post=12&subd=lethanhha78&ref=&feed=1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div class='snap_preview'><br /><p>Cảm xúc thường thoát khỏi sự kiểm soát của bạn ? Như vậy là khi còn nhỏ bạn đã không được học cách kiềm chế nó. Vậy thì bây giờ bạn hãy tự học. Nó đơn giản hơn là bạn nghĩ. Khi bạn phải nhanh chóng quyết định một điều gì và phải làm điều gì ngay lập tức, các phản xạ sẽ quyết định hành động của bạn. Khi đó bạn không có thời gian để suy nghĩ hợp lý và cân nhắc mọi tình huống. Trong cơn phẫn nộ hoặc tức giận bạn thường nói ra những lời, mà sau đó bạn ân hận. Hậu quả của những hành động thiếu sự kiểm soát đó có thể khó mà lường trước được, tình thế hầu như tuột khỏi tay bạn.</p>
<p>Các nhà tâm lý học càng ngày càng đánh giá cao vai trò của cảm xúc và ảnh hưởng của nó đến đời sống con người. Cũng rất may mắn là có thể kiểm soát cảm xúc và hướng nó một cách đúng đắn. Nghệ thuật đó được gọi là TRÍ TUỆ CẢM XÚC.<br />
<span id="more-12"></span>TRÍ TUỆ HỌC ĐƯỜNG</p>
<p>Trí tuệ cảm xúc không có nhiều điều giống với khái niệm truyền thống về trí tuệ của con người mà bấy lâu nay được coi là thước đo duy nhất về năng lực. Khả năng hiểu biết và phản ứng đúng trước các tình thế, sự nhanh nhạy trong việc phân tích những suy nghĩ, những thứ cần thiết trong nhà trường, để biết kết hợp các sự kiện lại, nhớ và rút ra kết luận, được đo bằng các trắc nghiệm trí tuệ. Kết quả của nó được xác định bởi hệ số thông minh IQ. Những người có hệ số thông minh cao không hẳn đã thành đạt trong cuộc sống. Thậm chí người ta còn cho rằng, trí tuệ đặc biệt còn có thể là sự cản trở, ví dụ như làm khó hơn sự giao tiếp với những người cùng tuổi. Các nhà tâm lý học cho rằng, không phải chỉ số thông minh cao là điều quyết định rằng các học sinh rất giỏi sẽ làm nên sự nghiệp ở tuổi trưởng thành, sẽ đạt được sự thoả mãn về nghề nghiệp, có những mối quan hệ hạnh phúc, lâu bền. Điều kiện để đat ïđược thành công trong cuộc sống lại là tập hợp các đặc điểm và sự khéo léo trong cuộc sống mà được xác định bởi trí tuệ cảm xúc IE (Inteligencja emocjonalna). Điều đó có nghĩa là sự thành đạt phụ thuộc nhiều hơn vào sự khéo léo quan sát, biết lắng nghe chính mình và mọi người, đồng thời biết xử sựï trước những điều không may mắn của số phận, có khả năng đàm phán, đạt tới sự thoả hiệp và phụ thuộc vào những mối quan hệ với môi trường, hơn là hệ số thông minh IQ.</p>
<p>TÌNH CẢM VÀ LÝ TRÍ</p>
<p>- Trí tuệ cảm xúc là sự khéo léo cho phép cảm thấy được cảm xúc, nhận biết nó và đặt tên cho nó một cách đúng đắn – Ewa Chalimoniuk, một nhà tâm lý học nói như vậy. Những người có trí tuệ cảm xúc biết cách thể hiện tình cảm của mình phù hợp với hoàn cảnh, có khả năng điều khiển nó. Khả năng thích nghi của họ cho phép họ hoạt động tốt hơn. Sự phân biệt được cảm xúc của người khác là điều cơ bản trong mối quan hệ với mọi người, mà người nắm bắt được cảm xúc của mình đồng thời biết kiềm chế nó, sẽ hiểu được cảm xúc của người khác tốt hơn. Khả năng này được gọi là sự đồng cảm. Những người đó giao tiếp với mọi người tốt hơn, nhờ vậy họ dễ dàng nhận được ở mọi người điều mà họ mong muốn. Họ được quý mến hơn, và thường đạt được thành công hơn những người có hệ số thông minh cao. Họ thường ít gây ra những bất hoà và ít khi bị lưỡng lự, do đó ít bị mất năng lượng hoạt động.</p>
<p>Một tính chất quan trọng nữa của trí tuệ cảm xúc là khả năng tập trung tình cảm vào những mục đích mà họ muốn đạt được. Tình cảm và sự đồng cảm giúp họ nhưng không có nghĩa là bỏ qua lý trí. Người có trí tuệ cảm xúc biết giữ sự cân bằng giữa tình cảm và lý trí.</p>
<p>BỘ NHỚ CẢM XÚC</p>
<p>Quyết định trí tuệ cảm xúc là phần nhân, một trong các phần giữa của não. Phần nhân là bộ nhớ cảm xúc, vì thế trong tình huống nhất định nó chỉ định những phản ứng phù hợp với những gì đã được ghi nhớ lại, giống hệt hoặc tương tự trong quá khứ. Những phản ứng đó rất nhanh và không phụ thuộc vào bộ nhớ não tức là vỏ não, nơi chịu trách nhiệm về các suy nghĩ hợp lý.Phần nhân nhận các tín hiệu không chỉ về sự đe doạ và stres, mà về tất cả các cảm xúc mạnh. Vì thế mà có những người, khi trúng sổ số giải độc đắc, có thể ngất đi hoặc bị nhồi máu cơ tim. Đó chính là phản ứng của phần nhân.</p>
<p>TÍNH CHẤT TÍCH LUỸ</p>
<p>Trí tuệ cảm xúc của trẻ em phát triển phụ thuộc vào các mối quan hệ với những người thân. Nó phụ thuộc rất nhiều vào việc cha mẹ sử xự như thế nào trước cảm xúc của trẻ. Ví dụ như khi đứa trẻ bị ngã và khóc, nếu cha mẹ có trí tuệ cảm xúc sẽ nói “ Cha mẹ biết rằng con đau, nhưng rồi dần dần con sẽ khỏi ‘. Những đứa trẻ, nếu nhận được sự chấp nhận của cha mẹ, những người biết khích lệ chúng, để chúng tự biết giải quyết các khó khăn khác nhau, chúng sẽ có được lòng tự tin, rằng chúng sẽ vượt qua được mọi điều không may mắn của số phận. Được phát triển trong sự an toàn, chúng tin rằng chính chúng có ảnh hưởng đến cuộc sống của mình. Thế giới không đe doạ chúng. Vì vậy đó là những người thích tìm hiểu và cởi mở trước những thử nghiệm mới. Họ trở nên dễ giao tiếp, sẵn lòng chơi với các bạn cùng tuổi hơn, và vì thế dễ nhận được sự đồng cảm của môi trường hơn. – Thật đáng tiếc, chúng ta vẫn có quan điểm rằng “ trẻ em không biết giận “. Suy nghĩ đó làm hạn chế sự phát triển trí tuệ cảm xúc – Ewa Chalimoniuk nói vậy – Nếu cha mẹ thường xuyên nói với con cái về các yếu điểm của chúng, thưòng xuyên khích bác, nói nặng lời và coi thường các cảm xúc của chúng, hoặc không mấy quan tâm đến con cái, họ đã làm tổn thương cảm xúc của trẻ. Ngay cả khi trẻ em tức giận, nếu cha mẹ trừng phạt chúng cũng ảnh hưởng không có lợi đến cảm xúc của trẻ.</p>
<p>TRÍ TỤÊ CƯỠNG ÉP</p>
<p>Trong tình huống mâu thuẫn người có trí tuệ cảm xúc không đổ lỗi cho mình hoặc cho người khác, họ chỉ tìm cách giải quyết. Họ muốn tìm giải pháp cho các khó khăn. Nếu xuất hiện những cản trở, họ không bị lâm vào tình trạng mất cân bằng. Họ sử xự tốt trong những tình huống căng thẳng, bởi họ nhận biết được sự phức tạp của nó. Người có trí tuệ cảm xúc, thay vì buồn rầu một cách tiêu cực, họ tìm phương pháp giải quyết vấn đề. Họ đánh giá một cách khách quan khả năng của mình. Điều đó không có nghĩa là họ không thể hiện cảm xúc của mình. Nhưng vì họ có đầy đủ ý thức về những cảm xúc đó, nên họ không trở thành nạn nhân của nó.</p>
<p>HÃY TÌM HIỂU TRÍ TUỆ CẢM XÚC CỦA BẠN</p>
<p>– PHỤ NỮ có hệ số thông minh IQ cao là những người có trí tuệ minh mẫn, không khó khăn trong việc biểu hiện cảm xúc của mình, có những mối quan tâm trong nhiều lĩnh vực và ưa thích thẩm mỹ. Họ dễ ở trong trạng thái bất ổn và lo sợ, thiếu tự tin ở mình, đánh giá thấp về bản thân. Họ cố gắng kiểm soát các cảm xúc tiêu cực, vì thế họ thường tránh những biểu hiện nóng nảy.</p>
<p>- ĐÀN ÔNG có hệ số thông minh IQ cao là những người có cách nhìn phê phán đối với tất cả. Họ không thích biểu hiện cảm xúc của mình, luôn giữ khoảng cách với những người xung quanh. Họ là những người có tham vọng và có trí tuệ minh mẫn. Đó là những người bướng bỉnh và luôn quyết chí đi đến mục đích đã đặt ra. Họ không bao giờ nghi ngờ hoặc phân vân điều gì.</p>
<p>- PHỤ NỮ có trí tuệ cảm xúc là những người cởi mở và tự nhiên trong hành động và cử chỉ. Họ thể hiện cảm xúc của mình, cả những cảm xúc tiêu cực một cách đúng mức. Đó là những người giỏi trong giao tiếp, là những người nhân hậu. Niềm vui và sự hài lòng vì cuộc sống là đặc điểm của họ. Họ không có tính khí thất thường.</p>
<p>- ĐÀN ÔNG có trí tuệ cảm xúc là những người nhân hậu, cởi mở và giỏi trong giao tiếp. Họ không có xu hướng buồn rầu quá mức, luôn quan tâm đến người thân, là những người có trách nhiệm, sẵn lòng vì người khác. (tamlyhoc.net)</p>
<img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/categories/lethanhha78.wordpress.com/12/" /> <img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/tags/lethanhha78.wordpress.com/12/" /> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/lethanhha78.wordpress.com/12/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/lethanhha78.wordpress.com/12/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/lethanhha78.wordpress.com/12/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/lethanhha78.wordpress.com/12/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/lethanhha78.wordpress.com/12/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/lethanhha78.wordpress.com/12/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/lethanhha78.wordpress.com/12/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/lethanhha78.wordpress.com/12/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/lethanhha78.wordpress.com/12/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/lethanhha78.wordpress.com/12/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lethanhha78.wordpress.com&blog=3320940&post=12&subd=lethanhha78&ref=&feed=1" /></div>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/03/31/tri-tu%e1%bb%86-c%e1%ba%a2m-xuc/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/57b2b0783f1c7e9f50d45a7ef6e580d9?s=96&#38;d=identicon" medium="image">
			<media:title type="html">lethanhha78</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Về Bản chất của động cơ</title>
		<link>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/03/31/v%e1%bb%81-b%e1%ba%a3n-ch%e1%ba%a5t-c%e1%bb%a7a-d%e1%bb%99ng-c%c6%a1/</link>
		<comments>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/03/31/v%e1%bb%81-b%e1%ba%a3n-ch%e1%ba%a5t-c%e1%bb%a7a-d%e1%bb%99ng-c%c6%a1/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 31 Mar 2008 12:13:53 +0000</pubDate>
		<dc:creator>lethanhha78</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tâm lí học đại cương]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://lethanhha78.wordpress.com/2008/03/31/v%e1%bb%81-b%e1%ba%a3n-ch%e1%ba%a5t-c%e1%bb%a7a-d%e1%bb%99ng-c%c6%a1/</guid>
		<description><![CDATA[Trong tâm lí học vấn đề bản chất động cơ còn nhiều quan điểm khác nhau, nhưng theo Tâm lí học Macxit, động cơ là sự phản ánh tâm lí về đối tượng có khả năng thoả mãn  nhu cầu của chủ thể. Nhu cầu bao giờ cũng nhằm vào một đối tượng nhất định. [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lethanhha78.wordpress.com&blog=3320940&post=11&subd=lethanhha78&ref=&feed=1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div class='snap_preview'><br /><p>Trong tâm lí học vấn đề bản chất động cơ còn nhiều quan điểm khác nhau, nhưng theo Tâm lí học Macxit, động cơ là sự phản ánh tâm lí về đối tượng có khả năng thoả mãn  nhu cầu của chủ thể. Nhu cầu bao giờ cũng nhằm vào một đối tượng nhất định. Nó hối thúc con người hành động nhằm đáp ứng thoả mãn và chỉ khi gặp được đối tượng có khả năng thoả mãn thì nó mới có thể trở thành động cơ thúc đẩy, định hướng hoạt động của chủ thể, thôi thúc con người hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu.<br />
<span id="more-11"></span>Như vậy, ở đây có mối quan hệ giữa động cơ và nhu cầu. Trong tâm lí học, hai hiện tượng này luôn được nghiên cứu trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nhiều khi đan xen nhau khó tách rời. Có thể nói rằng, nếu nhìn nhận nhu cầu như là một tất yếu khách quan thể hiện sự đòi hỏi của chủ thể về những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển thì động cơ là biểu hiện chủ quan của tất yếu khách quan đó. Tuy nhiên, động cơ và nhu cầu không đồng nhất với nhau, những nhu cầu giống nhau có thể được thoả mãn bằng những động cơ khác nhau. Và ngược lại ở đằng sau những động cơ khác nhau lại có những nhu cầu khác nhau. Mối quan hệ không đồng nhất giữa động cơ và nhu cầu nhờ tính chất đa dạng, đa phương thức trong động cơ, và cách thức thoả mãn nhu cầu trong hành động của con người. Có thể nói: động cơ của hoạt động có thể thấy đó chính là đối tượng của hoạt động ấy.Xét về phương diện phát sinh thì đối với hoạt động của con  người, sự không trùng khớp giữa các động cơ và mục tiêu là hiện tượng khởi điểm. Trái lại, sự trùng khớp động cơ và mục tiêu lại là hiện tượng có sau: hoặc đó là kết quả của việc mục tiêu có một động lực thúc đẩy độc lập, hoặc đó là kết qủa của sự ý thức về các động cơ làm cho chúng trở thành những động cơ &#8211; mục tiêu. Khác với mục tiêu, các động cơ thường không được chủ thể ý thức về nó ngay lúc đó, khi chúng ta thực hiện những hành động này hay hành động khác thì thường lúc đó chúng ta không ý thức về những động cơ đã thúc đẩy chúng ta. Khi được hỏi về duyên cớ của hành động đó thì chúng ta không khó khăn gì khi nêu ra nó, nhưng việc nêu duyên cớ này hoàn toàn không phải bao  giờ cũng chỉ rõ cho người ta biết những động cơ thực sự đã thôi thúc các hành động ấy.<br />
Tuy nhiên, những động cơ này cũng không tách rời khỏi ý thức, ngay cả khi con người không ý thức được động cơ hành động của mình thì ngay những lúc như vậy, động cơ cũng được phản ánh vào tâm lí nhưng ở dưới một hình thức đặc biệt: hình thức sắc thái cảm xúc của hành động. Sắc thái cảm xúc này(cường độ, dấu hiệu của nó và đặc tính về chất của nó) thực hiện một chức năng đặc biệt và điều đó đòi hỏi phải phân biệt khái niệm cảm xúc với khái niệm hàm ý nhân cách.  Tuy thế không phải ngay từ đầu đã có sự không trùng khớp của hai khái niệm này mà sự không trùng khớp chỉ xuất hiện khi do kết qủa phân đôi chức năng của động cơ nảy sinh trong tiến trình phát triển của hoạt động con người. Còn việc những động cơ mà lúc bấy giờ không được ý thức, hoàn toàn không chứng tỏ rằng động cơ là một bản nguyên đặc biệt, lẩn khuất trong những tầng sâu của tâm lý. Những động cơ không được ý thức  cũng chịu sự quy định như bất cứ một sự phản ánh tâm lí nào khác, chịu sự quy định của của tồn tại thực tế, của hoạt động con người trong thế giới khách quan. Và các động cơ chỉ lộ ra trước ý thức một cách khách quan bằng cách phân tích hoạt động của con người, còn trong chủ quan thì những động cơ chỉ thể hiện dưới dạng gián tiếp của nó mà thôi tức là dưới dạng hình thức những trải nghiệm như mong muốn, ý muốn, nguyện vọng đạt tới mục tiêu…Sự ý thức được động cơ là một hiện tượng có sau, chỉ nảy sinh ở mức độ nhân cách và thường xuyên được tái tạo lại trong tiến trình phát triển nhân cách.</p>
<p>Các động cơ đặc trưng của con người mang tính lịch sử- xã hội. Động cơ của con người nảy sinh ngay trong chính quá trình phát triển của cá thể, chứ không phải có sẵn từ lúc đứa trẻ mới sinh ra. Trong tuổi ấu nhi, các động cơ mới được hình thành một cách có thứ bậc, nhưng hết sức mờ nhạt, không rõ ràng. Dần dần, trong quá trình phát triển, những động cơ này mới dần mang tính chất xã hội nhiều hơn, do những động cơ đó gắn liền với việc trẻ lĩnh hội được những chuẩn mực, quy tắc hành vi trong xã hội. Phần lớn các nhà tâm lí học đều thừa nhận rằng, hệ thống động cơ của con người được hình thành trên cơ sở hoạt động, giao tíêp của con người trong hệ thống các quan hệ xã hội, nhóm xã hội nhất định. Nhưng trong hoàn cảnh buộc con người phải lực chọn động cơ nào cho phù hợp với việc tiến hành  hành động, khi đó có quá trình đấu tranh động cơ, hành động ý chí, khả năng nhận thức  sẽ giúp con người đối chiếu, so sánh động cơ để chọn ra đâu là động cơ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh xung quanh, giúp chủ thể lường trước diễn biến và kết quả hành động. Tuy nhiên, để làm rõ cơ chế hình thành động cơ lại chưa được nhiều nhà nghiên cứu một cách sâu sắc. Mặt khác, đối tượng thoả mãn của con người là những sản phẩm của quá trình sản xuất xã hội, với tư cách là những phản ánh tâm lí về đối tượng đó nên động cơ đặc trưng của con người mang nguồn gốc xã hội. Ngay cả một số động cơ mang tính chất sinh vật như động cơ đáp ứng nhu cầu tồn tại của con người, các nhu cầu bản năng của con người cũng mang tính xã hội, nó phụ thuộc vào điều kiện sống, lối sống, đặc trưng cho mỗi dân tộc.</p>
<p><b>Cấu trúc động cơ của nhân cách.</b></p>
<p>Nghiên cứu  cấu trúc động cơ  có ý nghĩa thực tiễn rất lớn trong ứng dụng tâm lí học, nhằm nâng cao hiệu quả của giáo dục điều chỉnh hành vi lệch chuẩn.<br />
Phần lớn các nhà tâm lí học khẳng định rằng, động cơ của con người  mang tính hệ thống. Các động cơ khác nhau của con người nằm trong một mối quan hệ chặt chẽ tạo nên một hệ thống thống nhất, trọn vẹn. Trong mỗi hoàn cảnh, điều kiện cụ thể mà phân biệt đâu là động cơ chủ đạo, đâu là động cơ thứ yếu. Sự đấu tranh động cơ, động cơ nào sẽ là động lực thúc đẩy chính con người tham gia vào quá trình hoạt động do  trình độ nhận thức của mỗi người, do các quy tắc, chuẩn mực mà con người nắn được trong quá trình hoạt động của mình.<br />
Ngày nay, trong tâm lí học có khá nhiều cách phân loại động cơ dựa trên các tiêu chí khác nhau. Người ta có thể phân ra, động cơ gần, động cơ xa, động cơ thứ phát, động cơ nguyên phát, động cơ tạo ý hay động cơ chức  năng  thúc đẩy, động cơ đẩy hay động cơ kéo….<br />
Trong thực tiễn của cuộc sống, chúng ta đều cảm nhận thấy rằng, mỗi người sống trong một thời đại có những động cơ gần như giống nhau. Nhiều nhà Tâm lí học đã khái quát nên những động cơ chung nhất như: động cơ thành đạt, động cơ giao tiếp, động cơ tự khẳng định bản thân…Tuy nhiên, với mỗi người lại có những động lực thúc đẩy họ thực hiện theo những cách riêng nhằm đáp ứng động cơ đó. Như vậy trong cấu trúc của một động cơ ta ít nhất có thể thấy được hai khía cạnh: khía cạnh nội dung của động cơ và khía cạnh lực của động cơ.<br />
Về nội dung của động cơ: nội dung của động cơ phản ánh cái mà con người muốn vươn tới, muốn đạt tới. Nội dung này vừa có tính khái quát vừa có tính cụ thể tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể nơi con người đang sống hay trong hoạt động của từng người cụ thể. Ví dụ như đối với nhà doanh nghiệp thì động cơ thành đạt mang tính khái quát được thực hiện trong hoạt động kinh doanh như sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, chiếm lĩnh thị trường…còn đối với nhà khoa học thì đó lại là động cơ chiếm lĩnh tri thức, thực hiện trong các công tác nghiên cứu,tìm tòi, phát minh…<br />
Khía cạnh lực của động cơ phản ánh độ mạng của động cơ. Khía cạnh lực thể hiện ở chỗ, một động cơ nhất định có khả năng thúc đẩy những hoạt động khác nhau nhằm thoả mãn động cơ đó hay không. Nếu có thì có thể duy trì hoạt động đến mức nào, tính tích cực mạnh mẽ hay nửa vời…<br />
Vì các hiện tượng tâm lí nảy sinh và tồn tại như một hình thức phản ánh tích cực của môi trường sống và các hoạt động sống của con người. Các động cơ của con người cũng được phản ánh như vậy. Vì vậy , khó có thể tách rời khía cạnh nội dung và lực của động cơ. Một lực không có nội dung thì khó có thể đạt được một ý nghĩa nào đó và không tồn tại như một lực thúc đẩy. Sự thay đổi khía cạnh nội dung của động cơ sẽ kéo theo những thay đổi lực của động cơ. Khi đó, động cơ đã hình thành sẽ mất đi và thay vào đó  là sự xuất hiện động cơ mới khác về chất. Tuy nhiên, lí thuyết về hai thành phần này của  động cơ chưa được làm rõ trong các công trình nghiên cứu của tâm lí học.</p>
<p><b>Tài liệu tham khảo:</b><br />
1.Tâm lý học (tập I – II)<br />
<i>Tác giả: Phạm Minh Hạc- Phạm Hoàng Gia- Trần Trọng Thuỷ- Lê Khanh</i><br />
NXB Giáo dục- 1989<br />
2. Hoạt động- ý thức- Nhân cách<br />
<i>Tác giả: Leônchiep- Người dịch:Phạm Minh Hạc- Phạm Hoàng Gia- Phan Huy Châu</i><br />
NXB Giáo dục1989<br />
3. Những vấn đề lý luận và phương pháp luận  tâm lý học<br />
<i>Tác giả: Lomov.</i><br />
NXB Đại học quốc gia Hà nội.</p>
<p>dinhhungtt &#8211; tamlyhoc.net</p>
<img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/categories/lethanhha78.wordpress.com/11/" /> <img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/tags/lethanhha78.wordpress.com/11/" /> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/lethanhha78.wordpress.com/11/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/lethanhha78.wordpress.com/11/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/lethanhha78.wordpress.com/11/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/lethanhha78.wordpress.com/11/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/lethanhha78.wordpress.com/11/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/lethanhha78.wordpress.com/11/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/lethanhha78.wordpress.com/11/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/lethanhha78.wordpress.com/11/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/lethanhha78.wordpress.com/11/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/lethanhha78.wordpress.com/11/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lethanhha78.wordpress.com&blog=3320940&post=11&subd=lethanhha78&ref=&feed=1" /></div>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/03/31/v%e1%bb%81-b%e1%ba%a3n-ch%e1%ba%a5t-c%e1%bb%a7a-d%e1%bb%99ng-c%c6%a1/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/57b2b0783f1c7e9f50d45a7ef6e580d9?s=96&#38;d=identicon" medium="image">
			<media:title type="html">lethanhha78</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Nhu cầu &#8211; lý luận về nhu cầu trong Tâm lý học</title>
		<link>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/03/31/nhu-c%e1%ba%a7u-ly-lu%e1%ba%adn-v%e1%bb%81-nhu-c%e1%ba%a7u-trong-tam-ly-h%e1%bb%8dc/</link>
		<comments>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/03/31/nhu-c%e1%ba%a7u-ly-lu%e1%ba%adn-v%e1%bb%81-nhu-c%e1%ba%a7u-trong-tam-ly-h%e1%bb%8dc/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 31 Mar 2008 12:12:31 +0000</pubDate>
		<dc:creator>lethanhha78</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tâm lí học đại cương]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://lethanhha78.wordpress.com/2008/03/31/nhu-c%e1%ba%a7u-ly-lu%e1%ba%adn-v%e1%bb%81-nhu-c%e1%ba%a7u-trong-tam-ly-h%e1%bb%8dc/</guid>
		<description><![CDATA[1. CÁC QUAN ĐIỂM VỀ NHU CẦU CỦA CÁC NHÀ TÂM LÝ HỌC PHƯƠNG TÂY
1.1    Tâm lý học hành vi về nhu cầu
Chủ nghĩa Hành vi do nhà tâm lý hoc Mỹ J.Watson (1878/1895) sáng lập. Ông cho rằng: tâm lý học không mô tả, giảng giải các trạng thái ý thức mà chỉ nghiên [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lethanhha78.wordpress.com&blog=3320940&post=10&subd=lethanhha78&ref=&feed=1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div class='snap_preview'><br /><p><b>1. CÁC QUAN ĐIỂM VỀ NHU CẦU CỦA CÁC NHÀ TÂM LÝ HỌC PHƯƠNG TÂY</b><br />
<i><b>1.1    Tâm lý học hành vi về nhu cầu</b></i><br />
Chủ nghĩa Hành vi do nhà tâm lý hoc Mỹ J.Watson (1878/1895) sáng lập. Ông cho rằng: tâm lý học không mô tả, giảng giải các trạng thái ý thức mà chỉ nghiên cứu hành vi cơ thể. Hành vi được hiểu là tổng số các cử động bên ngoài, nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp ứng lại một kích thích nào đó, nó được thể hiện bằng công thức   hành vi nổi tiếng S-R<br />
<span id="more-10"></span> Do vậy, theo Tâm lý hoc hành vi, mọi vấn đề tâm lý như ý thức, tư tưởng, tình cảm, ý chí, nhu cầu, động cơ…đều là những khái niệm mơ hồ, không ai thấy được, sờ thấy được, đo được, đếm được. Do vậy, tất cả chúng đều là phi vật chất, và không thể quyết định được một hiện tựơng vật chất.<br />
Song nếu xét về thực chất, ngay từ đầu thế kỉ 19, các tác giả như Wkoler, Ethordike, NE.Miller đã có những thí nghiệm nghiên cứu về nhu cầu ở động vật và khẳng định: các kiểu hành vi của con vật được thúc đẩy bởi nhu cầu (bằng việc đưa ra “luật hiệu ứng” và giả thuyết về mối liên hệ kích thích – phản ứng), từ đó kết luận: Nhu cầu có thể quyết định hành vi.<br />
Sau này, các đại biểu tâm lý hoc Hành vi mới đưa vào công thức S – R một biến số 0 – biến số trung gian: đó là nhu cầu, trạng thái chờ đón, kinh nghiệm sống…các tác giả này giải thích rằng: O là biến số trung gian có tác dụng điều chỉnh đáp ứng phù hợp với các kích thích vào cơ thể.<br />
Xét về mặt quan điểm: các nhà hành vi không coi nhu cầu là thuộc về tâm lý, nhưng trên thực tế, nghiên cứu của họ cho thấy các thực nghiệm đã chỉ ra các nhà tâm lý học hành vi nghiên cứu khá rõ và kĩ về nhu cầu, đặc biệt là những nhu cầu cụ thể, nhu cầu sinh lý.<br />
Điểm hạn chế của họ là: họ quan niệm đồng nhất nhu cầu ở con người và nhu cầu ở con vật. Thiếu sót này do các thực nghiệm mà các nhà hành vi dựa vào để đi đến kết luận thường là thực nghiệm trệ động vật.<br />
<i><b>1.2Tâm lý học hiện sinh về vấn đề nhu cầu.</b></i><br />
Clack Hull với thuyết xung năng theo hướng tiếp cận sinh học cho rằng: các nhu cầu sinh lý chi phối đời sống con người. Ông không phủ định sự có mặt của những nhu cầu, động cơ khác nhưng theo ông, chúng kết hợp và bị chi phối bởi nhu cầu thể chất, thúc đẩy hoạt động của con người.<br />
Về bản chất, thuyết xung năng đã sinh vật hoá nhu cầu của con người. Xem nhu cầu như là xung năng mang tính sinh  vật, nảy sinh từ sự thiếu hụt thức ăn, nước uống, không khí, nguy hiểm…qua đó phủ nhận tính xã hội, bản chất xã hội của nhu cầu. Quy gán: nhu cầu nội tâm và nhu cầu xã hội đều do yếu tố sinh vật tạo ra.<br />
<i><b>1.3Phân tâm học về nhu cầu</b></i><br />
Thuyết phân tâm do Freud (1856 – 1939) xây dựng nên. Trong quá tình nghiên cứu của mình, ông cũng đã đề cập đến vấn đề nhu cầu của cơ thể trong “Lý thuyết bản năng của con người”. Ông khẳng định, Phân tâm học coi trọng nhu cầu tự do cá nhân như các nhu cầu tự nhiên, đặc biệt là nhu cầu tình dục. Việc thoả mãn nhu cầu tình dục sẽ giải phóng năng lượng tự nhiên, và như thế, tự do cá nhân thực sự được tôn trọng, kìm hãm nhu cầu này sẽ dẫn đến hành vi mất định hướng của con người. “Khát dục trong Phân tâm học không có ý nói đến việc thoả mãn những khát khao thông thường mà là sự đòi hỏi thoả mãn những khát khao mãnh liệt. Những mong muốn này được thoả mãn sẽ đem lại cho con người những khoái cảm đặc biệt và sẽ tạo ra một trạng thái tâm lý sung sướng, khoan khoái, dễ chịu. Khi một khát vọng nào đó chưa được thoả mãn thì sự căng thẳng về mặt tâm lý lên đến tột đỉnh”[Freud và Phân tâm học – Tr.47]<br />
Erich Fromm  nhà phân tâm học mới quan niệm rằng: “nhu cầu tạo ra cái tự nhiên của con người. Đó là những nhu cầu:<br />
1.   Nhu cầu quan hệ người – người.<br />
2.   Nhu cầu tồn tại “cái tâm” con người<br />
3.   Nhu cầu đồng nhất bản thân và xã hội với dân tộc, giai cấp, tôn giáo.<br />
4.   Nhu cầu về sụ bền vững và hài hoà.<br />
5.   Nhu cầu nhận thức, nghiên cứu.<br />
Những nhu cầu này tạo là thành phần tạo nên nhân cách”. [Tr.70 Tâm lý học nhân cách – Nguyễn Ngọc Bích – Nxb ĐHQG – Hà Nội]<br />
<i><b>1.4Các nhà tâm lý học Gestal về nhu cầu.</b></i><br />
Các nhà nghiên cúu tâm lý nổi tiếng của trường phái này là: W.Wertheimer, Kohler, Kolka, đặc biệt là Kutrtlevan với các nghiên cứu của ông về vấn đề động cơ và nhân cách, tâm lý học xã hội đều có đề cập đến nhân tố thúc đẩy hoạt động của con người, không chỉ có xung năng mà còn có cả nhu cầu xã hội. Khi xuất hiện một nhu cầu nào đó, xuất hiện đồng thời liên tưởng có liên quan đến các nhu cầu đó của chủ thể. Với mọi ý nghĩ của con người đều có liên quan đến các nhu cầu khác nhau, vì vậy, tạo ra một chuỗi những căng thẳng là nguồn gốc tính cực của hoạt động, đồng thời mang tính tích cực hoạt động, giảm trạng thái căng thẳng đó.<br />
<i><b>1.5Tâm lý học nhân văn về nhu cầu.</b></i><br />
Tâm lý học nhân văn ra đời như một khuynh hướng đối lập với tâm lý học hành vi và phân tâm học. Tiêu biểu cho lý thuyết về nhu cầu của trường phái tâm lý học nhân văn là “Thuyết thứ bậc nhu cầu” của A.Maslow (1908 – 1970).<br />
Theo lý thuyết của ông thì nhu cầu của con người hình thành tạo nên một hệ thống và có thứ bậc từ cấp thiết đến ít cấp thiết hơn. Hệ thống đó được trình bày như sau:<br />
<img src="http://chiron.valdosta.edu/whuitt/col/regsys/maslow.gif" border="0" height="370" width="461" />1) Physiological: các nhu cầu cơ thể như đói, khát, mệt, ….;<br />
2) Safety/security: nhu cầu được an tòan, không bị nguy hiểm;<br />
3) Belonginess and Love: nhu cầu sở hữu và yêu thương, liên hệ với người khác và được chấp nhận;<br />
4) Esteem: nhu cầu được tôn trọng, được tán thành, được biết đến;<br />
5) Cognitive: nhu cầu nhận thức, khám phá;<br />
6) Aesthetic: nhu cầu thẩm mỹ, vươn tới cái đẹp;<br />
7) Self-actualization: nhu cầu tự hòan thiện, tự khẳng định mình;<br />
8 ) Self-transcendence: nhu cầu tham gia vào những mối liên hệ liên cá nhân, vượt ra khỏi cái tôi của mình, giúp người khác tự khẳng định họ và tự nhận ra những giá trị của họ.<br />
Theo ông, tầm quan trọng của các nhu cầu được sắp xếp theo thứ tự từ dưới lên trên theo thang nhu cầu: từ mức thứ nhất đến mức thứ năm. Bốn mức nhu cầu đầu tiên ông gọi đó là nhóm nhu cầu thiếu hụt.  Còn ở mức thứ năm, ông chia nhỏ hơn: nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu sáng tạo, nhu cầu hiểu biết..ông gọi là nhóm các nhu cầu phát triển. Sự phân chia này tuy theo thang bậc nhưng nó không phải là cố định mà chúng linh hoạt, thay đổi tuỳ theo điều kiện cụ thể.<br />
<i><b>1.5Một số quan điểm khác</b></i><br />
Henrry Musay, khi nghiên cứu về vấn đề nhu cầu khẳng định: nhu cầu là một tổ chức cơ động, hướng dẫn và thúc đẩy hành vi. Nhu cầu ở mỗi người khác nhau về cường độ mức độ, đồng thời các loại  nhu cầu chiếm ưu thế cũng khác  nhau ở mỗi người. Ảnh hưởng của phâm tâm học, ông cho rằng nhu cầu quy định xu hướng nhân cách đều xuất phát từ nguồn năng lượng libido vô thức.<br />
Tuy nhiên, ông cũng đưa ra quan điểm tiến bộ về nhu cầu: thể nghiệm ban đầu là cảm giác băn khoăn luôn ám ảnh, con người cũng như con người đều thiếu thốn một cái gì đó, nó là cần thiết của chủ thể cần cho hoạt động sống và do đó, gây cho chủ thể một mục đích tính tích cực nhất định.<br />
Phillip Kotler khi nghiên cứu về nhu cầu trong hoạt động quản trị kinh doanh đã đưa ra quan điểm phân biệt nhu cầu, mong muốn và yêu cầu.<br />
Theo ông, nhu cầu là trạng thái cảm giác thiếu hụt một sự thoả mãn cơ bản nào đó của cơ thể, tồn tại như một bộ phận cấu thành cơ thể và nhân thân của con người.<br />
Mong muốn là ước ao có được những thứ cụ thể để được thoả mãn nhu cầu sâu xa nào đó. Nó không ngừng phát triển và được định hình bởi các lực lượng và chế định xã hội.<br />
Yêu cầu là mong muốn có được những thứ cụ thể được hậu thuẫn của khả năng có thể chiếm lĩnh và thái độ sẵn sàng chiếm lĩnh chúng (trong kinh doanh, nó là những sảm phẩm cụ thể được hậu thuẫn bởi khả năng và thái độ sẵn sàng mua chúng) Từ đó, ông khẳng định: “những người làm makerting không tạo ra nhu cầu, nhu cầu đã tồn tại trước khi có những người làm maketting”.<br />
Ông cũng chia nhu cầu ra 5 kiểu khác nhau:<br />
1.   Nhu cầu đựơc nói ra<br />
2.   Nhu cầu thực tế<br />
3.   Nhu cầu không đựơc nói ra<br />
4.   Nhu cầu được thích thú<br />
5.   Nhu cầu thầm kín<br />
Nhìn chung, quan điểm của ông về nhu cầu chỉ là ứng dụng trong hoạt động quản trị kinh doanh. Nhưng nó cũng đóng góp một phần trong việc tìm hiểu nhu cầu của con người.</p>
<p><b>2. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ NHU CẦU CỦA CÁC NHÀ TÂM LÝ HỌC XÔ VIẾT</b><br />
Sau Cách mạng tháng Mười, nền tâm lý học ở Liên Xô đã có bước phát triển mạnh mẽ. Dưới ánh sáng của triết học Mác – Lênin, các nhà tâm lý học Liên Xô khi nghiên cứu về con người, đời sống tâm lý người đã khẳng định: nhu cầu là yếu tố bên trong quan trọng đầu tiên thúc đẩy hoạt động của con người.<br />
Ngay trong triết học, <b><i>F.Ằnghen</i></b> – tuy không phải là một nhà tâm lý học, nhưng khi nói về quan điểm của mình về nhu cầu. ông khẳng định: “Người ta quy cho trí óc, cho sự mở mang và hoạt động của bộ óc tất cả công lao làm cho xã hội phát triển được  nhanh chóng và đáng lẽ người ta phải giải thích rằng hoạt động của mìn là do nhu cầu của mình quyết định (mà những nhu cầu đó quả thật đã phản ánh vào trong đầu óc con người, làm cho họ có ý thức đối với những nhu cầu đó) thì người ta lại quen giải thích rằng hoạt động của mình là do tư duy của mình quyết định. (F. Anghen – Phép biện chứng của tự nhiên, Nxb Sự thật,H. trang 280)<br />
<i><b>D.N. Uznetze</b></i> người đầu tiên trong tâm lý học Xô viết nghiên cứu về nhu cầu. Ông khám phá ra mối quan hệ giữa nhu cầu và hành vi. Tương ứng theo mỗi kiểu hành vi là một nhu cầu. Ông cho rằng: không có gì đặc trưng cho một cơ thể sống hơn sự có mặt của nó ở nhu cầu. Nhu cầu, đó là cội nguồn của tính tích cực, với ý nghĩa này thì khái niệm nhu cầu rất rộng.. . Nhu cầu là một thuộc tính tâm lý đặc trưng giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hành vi, ông quan niệm rằng: nhu cầu là yếu tố quyết định tạo ra tính tích cực, nó xác định xu hướng, tính chất hành vi. Và ông cũng cho rằng: dựa vào nhu cầu của con người để phân loại hành vi của con người.<br />
<i><b>X.L Rubinstein</b></i> khẳng định rằng con người có nhu cầu sinh vật, nhưng bản chất của con người là sản phẩm của xã hội vì thế phải xem xét đồng thời các vấn đề cơ bản của con người với nhân cách. Nói đến nhu cầu của con người nói đến việc đòi hỏi một cái gì đó hay một điều gì đó nằm ngoài con người. thể) trong quá trình hoạt động để thoả mãn nhu cầu. Khả năng đáp ứng những đòi hỏi ấy một  mặt phụ thuộc vào thế giới đối tượng, trong những điều kiện cụ thể, mặt khác nó phụ thụôc vào sự nỗ lực, năng lực của chính chủ thể. Do đó, do đó, khi nói đến nhu cầu sẽ xuất hiện hai hệ thống là: thế giới đối tượng và trạng thái tâm lý của chủ thể.  Tức là phải có mối quan hệ thống nhất giữa hai yếu tố khách quan (của đối tượng) và yếu tố chủ quan (của chủ thể) trong hoạt động thoả mãn nhu cầu.<br />
Nhu cầu mang tính  tích cực, thúc đẩy con người hoạt động tìm kiếm cách thức, phương tiện đối tượng thoả mãn nó.<br />
<i><b>P.X. Ximonov</b></i> thì cho rằng: trong trường hợp nhu cầu cấp bách xuất hiện mà thiếu hụt thông tin về khả năng thoả mãn, sẽ náy inh những rung cảm âm tính, tăng năng lượng nhu cầu. Tuy nhiên, kết quả hành vi lại không thuận lợi. Kết quả dương tính sẽ làm giảm tổng thể các hành động thoả mãn nhu cầu. Theo ông, đặc điểm nhu cầu phụ thuộc vào việc được trang bị thông tin, công cụ và cách thức nhằm thoả mãn nhu cầu.<br />
<i><b>A.N.Leonchiep</b></i> cho rằng: cũng như những đặc điểm tâm lý khác của con người, nhu cầu cũng có nguồn gốc trong hoạt động thực tiễn.  Theo ông, nhu cầu thực sự bao giờ cũng có tính đối tượng: nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu về một cái gì đó. Trong mối quan hệ giữa đối tượng thoả mãn nhu cầu và nhu cầu, ông cho rằng: đối tượng tồn tại một khách quan và không xuất hiện khi chủ thể mới chỉ có cảm giác thiếu hụt hay đòi hỏi. Chỉ khi chủ thể thực sự hoạt động thì đối tượng thoả mãn nhu cầu mới xuất hiện và lộ diện ra. Nhờ có sự lộ diện ấy mà nhu cầu mới có tính đối tượng của nó.<br />
Nhu cầu, với tính chất là sức mạnh nội tại thì chỉ có thể được thực thi trong hoạt động. Lúc đầu nhu cầu chỉ xuất hiện như là một điều kiện, một tiền đề cho hoạt động, chỉ đến khi chủ thể thực sự bắt đầu hành động với đối tượng thì lập tức xảy ra sự biến hoá của nhu cầu, nó không còn tồn tại một cách tiềm tàng. Sự phát triển của hoạt động càng đi bao xa bao nhiêu thì nhu cầu càng chuyển hoá bấy nhiêu thành kết quả của hoạt động.<br />
Ông phê phán việc tách nhu cầu ra khỏi hoạt động vì như vậy sẽ coi nhu cầu là điểm xuất phát của hoạt động. Mối liên hệ giữa hoạt động với nhu cầu được ông mô tả bằng sơ đồ:  Hoạt động – Nhu cầu – Hoạt động. Luận điểm này đáp ứng được quan điểm Macxit về nhu cầu. Luận điểm này cho rằng nhu cầu của con người được sản xuất ra. Đó là luận điểm có ý nghĩa đối với tâm lý học. Ông còn cho rằng: nhu cầu của con người không chỉ được sản xuất ra mà còn được cải biến ngày trong quá trình sản xuất và tiêu thụ và đó là mấu chốt để hiểu được bản chất của các nhu cầu của con người.<br />
Khi xem xét mối quan hệ giữa nhu cầu với động cơ, ông cho rằng: khi mà đối tượng của nhu cầu xuất hiện, cái mà được nhận biết (được cảm nhân, được hình dung, hoặc được tư duy) thì có được chức năng thúc đẩy, hướng dẫn hoạt động, tức là trở thành động cơ. Hay, nội dung đối tượng của nhu cầu chính là động cơ của hoạt động. Một hoạt động diễn ra bao giờ cũng hướng vào việc đạt  mục đích đạt kết quả nhất định nào đó. Động cơ của hoạt động chính là cái nhu cầu đã được đối tượng hoá và được hình dung trước dưới dạng các biểu tượng của kết quả hoạt động.<br />
<i><b>B.Ph. Lomov</b></i> khi nghiên cứu về nhân cách, ông cũng đề cập khá nhiều đến nhu cầu. Ông cho rằng nhu cầu như là một thuộc tính của nhân cách. “Nhu cầu cá nhân là đòi hỏi nào đó của nó về những điều kiện và phương tiện nhất định cho việc tồn tại và phát triển. Nhu cầu đó nhất thiết bắt nguồn từ những quá trình xảy ra có tính khách quan trong đó cá nhân tham dự vào suốt cả đời sống của mình. Dĩ nhiên, nhu cầu là trạng thái của cá nhân, nhưng là nhu cầu về một cái gì đó nằm ngoài cá nhân” [Những vấn đề lý luận và phương pháp luận trong tâm lý học – Tr 479] Trong đời sống của cá nhân, nhu cầu vật chất không phải là tất cả. Con người có thể tồn tại và phát triển chỉ như một thành viên của xã hội. Còn việc “tiêu dùng” những giá trị tinh thần do xã hội tạo ra mới có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách.  Ông cho rằng, các nhu cầu đều có cấp độ của nó. Chẳng hạn như nhu cầu nhận thức thì đi từ sự tò mò, tới sự tìm kiếm chân lý một cách say mê, nhu cầu nghỉ ngơi đi từ việc cần phải thư giãn, ngủ cho đến cách ly tạm thời với các hình thức quen thuộc của đời sống xã hội…Nhu cầu cao nhất là nhu cầu sáng tạo.</p>
<p><i><b>Tài liệu tham khảo.</b></i><br />
1.   Tâm lý học phát triển.<br />
Tác giả: Vũ Thị Nho<br />
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội- 1999.<br />
2.   Từ điển tâm lí học.<br />
Nguyễn Khắc Viện ( chủ biên)<br />
NXB Thế Giới-1995.<br />
3.   Tâm lý học(Tập I-II)<br />
Tác giả: Phạm minh Hạc- Phạm hoàng Gia- Lê Khanh- Trần trọng Thuỷ.<br />
NXB Giáo dục –1989.<br />
4.   Tâm lý học Liên Xô.<br />
Nhà xuất bản Tiến Bộ-1978.<br />
5.   Tâm lý học sư phạm Đại học<br />
Tác giả: Phạm Thành Nghị- Nguyễn Thạc<br />
NXB Giáo dục –1992.<br />
6.   Hoạt động – Ý thức- Nhân cách.<br />
Tác giả: A.N. Leonchiév<br />
NXB Giáo dục –1985.<br />
7.   Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Tâm lý học<br />
Tác giả: Lômov- Nxb Đại học quốc gia Hà Nội – 2000<br />
8.   Nghiên cứu con người đi vào công nghiệp hoá hiện đại hoá<br />
Tác giả: Phạm Minh Hạc<br />
9.   Tuyển tập Tâm lý học<br />
Tác giả: Phạm Minh Hạc – Nxb Giáo dục<br />
10.   Tâm lý học nhân cách<br />
Tác giả Nguyễn Ngọc Bích – Nxb ĐHQG Hà nội<br />
11.   Một số tài liệu trong hội nghị khoa học kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Leonchiev.( Phạm Minh Hạc- Nguyễn Ngọc Phú …)<br />
12.   Những điều trọng yếu trong tâm lý học<br />
Tác giả  Roret S. Feldman – Nxb Thống kê</p>
<p>(<i>Trích dẫn từ đề tài của dinhhungtt</i> <img src="http://www.tamlyhoc.net/forum/Smileys/default/1.gif" alt="Happy" border="0" /> -tamlyhoc.net)</p>
<img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/categories/lethanhha78.wordpress.com/10/" /> <img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/tags/lethanhha78.wordpress.com/10/" /> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/lethanhha78.wordpress.com/10/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/lethanhha78.wordpress.com/10/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/lethanhha78.wordpress.com/10/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/lethanhha78.wordpress.com/10/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/lethanhha78.wordpress.com/10/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/lethanhha78.wordpress.com/10/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/lethanhha78.wordpress.com/10/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/lethanhha78.wordpress.com/10/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/lethanhha78.wordpress.com/10/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/lethanhha78.wordpress.com/10/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lethanhha78.wordpress.com&blog=3320940&post=10&subd=lethanhha78&ref=&feed=1" /></div>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/03/31/nhu-c%e1%ba%a7u-ly-lu%e1%ba%adn-v%e1%bb%81-nhu-c%e1%ba%a7u-trong-tam-ly-h%e1%bb%8dc/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/57b2b0783f1c7e9f50d45a7ef6e580d9?s=96&#38;d=identicon" medium="image">
			<media:title type="html">lethanhha78</media:title>
		</media:content>

		<media:content url="http://chiron.valdosta.edu/whuitt/col/regsys/maslow.gif" medium="image" />

		<media:content url="http://www.tamlyhoc.net/forum/Smileys/default/1.gif" medium="image">
			<media:title type="html">Happy</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Hướng dẫn sử dụng SPSS v12</title>
		<link>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/03/31/h%c6%b0%e1%bb%9bng-d%e1%ba%abn-s%e1%bb%ad-d%e1%bb%a5ng-spss-v12/</link>
		<comments>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/03/31/h%c6%b0%e1%bb%9bng-d%e1%ba%abn-s%e1%bb%ad-d%e1%bb%a5ng-spss-v12/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 31 Mar 2008 12:06:16 +0000</pubDate>
		<dc:creator>lethanhha78</dc:creator>
				<category><![CDATA[Phương pháp NCKH]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://lethanhha78.wordpress.com/?p=9</guid>
		<description><![CDATA[SPSS training: Hướng dẫn dưới đây dựa trên window XP và spss 12.0.
I.   Giới thiệu:
1.    Các loại file dùng trong spss:   Dưới đây, dấu “*” dùng để thay thế tên file, “*.sav” có thể là “minh.sav” hoặc tên file khác, nhưng đuôi (sau dấu phảy) không thay đổi tùy tiện được vì nó cho biết bản chất [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lethanhha78.wordpress.com&blog=3320940&post=9&subd=lethanhha78&ref=&feed=1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div class='snap_preview'><br /><p>SPSS training: Hướng dẫn dưới đây dựa trên window XP và spss 12.0.</p>
<p><b>I.   Giới thiệu:</b></p>
<p><b>1.    Các loại file dùng trong spss:  </b> Dưới đây, dấu “*” dùng để thay thế tên file, “*.sav” có thể là “minh.sav” hoặc tên file khác, nhưng đuôi (sau dấu phảy) không thay đổi tùy tiện được vì nó cho biết bản chất của file đó là file loại gì.</p>
<p>•   File dữ liệu: có dạng *.sav (đuôi .sav)<br />
•   File để viết các dòng lệnh (syntax file): có dạng *.sps<br />
•   File kết quả (output file): có dạng *.spo<br />
<span id="more-9"></span></p>
<p><b>2.    Mở các files trên trong spss: </b>Có nhiều cách mở các file này trong spss. Hai cách mở thông thường là:</p>
<p>•   Start=&gt;all program=&gt;spss for window=spss 12.0 for window, hoặc:<br />
•   Vào window explorer, tìm directory và file spss rồi bấm nhanh 2 lần chuột trái vào biểu tượng của file đó</p>
<p><b>3.    Khi đã mở được file dữ liệu rồi, ta sẽ thấy cửa sổ của spss:</b><br />
•   Trên cùng là tên của cửa sổ spss (màu xanh), có tên file và kiểu cửa số (spss data editor là cửa sổ cho file dữ liệu, spss syntax editor là cửa số cho file lệnh, và spss viewer là cửa số để xem kết quả). Phía bên phải thanh này là các nút mở rộng/thu hẹp cửa sổ và nút đóng cửa số (có dấu X màu đỏ).<br />
•   Thanh menu: bao gồm danh sách các nhóm lệnh như “file” gồm các lệnh liên quan đến các file như mở/đóng file, “edit” gồm các lệnh liên quan đến hiệu đính file như copy hay cut, “view” gồm các lựa chọn liên quan đến việc hiển thị trên màn hình spss, “data” gồm các lệnh thao tác và chuẩn bị số liệu, “transform” gồm các lệnh làm biết đổi hoặc tạo mới các biến số, “analyze” gồm các lệnh phục vụ cho việc phân tích thống kê, “graph” gồm các lệnh vẽ đồ thị hay biểu đồ, “utilities” gồm các lệnh tiện ích (làm cho file dữ liệu dễ dùng), “add-ons” gồm các lệnh thêm vào chương trình spss cơ bản, “window” liên quan đến các lệnh ưu tiên hiện thị cửa sổ nào và cửa sổ của file loại nào đang ở dạng tích cực.<br />
•   Dưới thanh menu có thanh công cụ gồm các biểu tượng của một số lệnh thường dùng<br />
•   Dưới thanh biểu tượng các lệnh thường dùng trên là phần màn hình về các đặc trưng của file spss.<br />
•   Lưu ý là có hai trang hiển thị khác nhau những đặc trưng của file dữ liệu (phía dưới màn hình có “Data view” và “Variable view”). Trang “Data view” hiển thị giá trị của các biến số đối với mỗi case, các cột là các biến, các hàng là các case. Trên nóc các cột là tên biến, phía trái là cột với số thứ tự các case.</p>
<p><b>Xin lối, không biết add ảnh minh hoạ cho các bạn bằng cách nào</b></p>
<p>Variable view hiển thị các đặc trưng của các biến số. Các cột là các đặc trưng của các biến số như tên biến, loại biến số hay biến chữ, số lượng ký tự được dùng, phần thập phân sau dấu phảy đối với biến số, nhãn của biến số, nhãn và giá trị của các phương án trả lời, v.v.. Các hàng là thứ tự các biến số trong file dữ liệu.</p>
<p>Save file: Có thể dùng lệnh “save” hay “save as” để lưu dữ liệu sau khi đã làm việc xong tương tự như đối với microsoft word.</p>
<p><b>Split file: </b></p>
<p>dùng để tách file theo các đặc trưng của một biến hay một số biến như tách riêng theo tỉnh, hay theo giới tính, v.v…</p>
<p>Nếu dùng lệnh này và sau đó save file, nhớ save với tên file mới để khỏi lẫn với file gốc.</p>
<p>cách làm: từ menu bar, làm như sau:</p>
<p>Data=&gt;split files…=&gt; chọn biến để split file (có thể chọn hơn một biến), chọn “organize outputs by groups” and “sort file by grouping variables”&gt;&gt;&gt; sau đó chạy frequency, lựa chọn này sẽ cho nhiều bảng nhỏ (nếu chọn split file theo 2 biến), mỗi bảng nhỏ là một phương án của các biến được chọn để split file.</p>
<p>Data=&gt;split files…=&gt; chọn biến để split file (có thể chọn hơn một biến), chọn “organize outputs by groups” and “compare groups”&gt;&gt;&gt; lựa chọn này sẽ cho các bảng dạng như bảng chéo 3 chiều (hoặc hơn, nếu chọn từ 2 biến trở lên cho split file) (số bảng sẽ ít hơn lựa chọn bên trên).</p>
<p>Có thể trở lại file không split bằng việc vào Data=&gt;split files…=&gt;Analyze all cases. Hoặc vào syntax window viết lệnh “split file off.” và chạy lệnh này.</p>
<p><b>II.   Những lệnh thường dùng trong spss:</b></p>
<p><b>A.   Sử dụng lệnh có sẵn trên thanh menu:</b></p>
<p><b>1.   Chuẩn bị dữ liệu:</b></p>
<p>Nói chung, các biến số có sẵn do nhập số liệu từ bảng hỏi không dùng được ngay, mà cần một số thao tác chuẩn bị trước khi có thể dùng để phân tích. Như vậy bởi vì một số trường hợp có thể không có thông tin về biến đó, hoặc biến đó ở dạng biến liên tục (tuổi hay năm sinh) trong khi chúng ta cần biến số hạng (nhóm tuổi, hay lớp thế hệ), v.v..</p>
<p>Để xem số liệu của một biến số nào đó đã sẵn sàng cho việc phân tích hay chưa, chúng ta dùng lệnh “frequencies…” đơn giản:</p>
<p>Analyze=&gt;Descriptive Statistics=&gt;Frequencies… rồi chọn biến (năm sinh) ở bên trái, nhấn nút tam giác ở giữa để đưa biến số đó sang ô bên phải, rồi ấn OK.</p>
<p>Trong ví dụ này, chúng ta thấy năm sinh được nhập với 4 chữ số, có 8 trường hợp không có thông tin (missing). Biến năm sinh có thể không tiện cho chúng ta trong một số trường hợp khi chúng ta cần phân tích theo tuổi. Như vậy, chúng ta phải tạo ra biến số mới từ biến “năm sinh”</p>
<p>Lệnh “compute”:</p>
<p>Transform=&gt;compute…</p>
<p>Ta viết vào ô “Target Variable” tên biến mà chúng ta muốn tạo. Tên biến chỉ được có tối đa 8 ký tự, ví dụ “tuoi”. Sau đó chúng ta có thể viết công thức để tạo biến mới ở ô bên phải dấu “=”. Có thể dùng các trợ giúp ở phía dưới để chọn biến số và các ký hiệu toán học, cũng như các lệnh logic.</p>
<p>Nhấn “Type &amp; Label…” để gán nhãn cho biến số này. Một cửa số con sẽ hiện ra và ta ghi nhãn vào, chẳng hạn “Tuổi của người được hỏi”. Chúng ta cũng cần quyết định xem đây là biến có giá trị số hay chữ. Nếu số, chúng ta chọn “numeric”, nếu là biến chữ chúng ta chọn “string”. Sau đó ấn “continue” chúng ta sẽ trở lại cửa sổ tạo biến. ấn OK, chúng ta đã tạo biến xong.</p>
<p>Chúng ta có thể xem kết quả bằng cách chạy lệnh frequencies với biến mới được tạo.</p>
<p>Lệnh recode:</p>
<p>Lệnh này có 2 lựa chọn: (1) thay đổi mã số của một biến (into same variables), hoặc (2) tạo ra một biến mới từ việc mã hóa các giá trị theo kiểu khác (into different variables).</p>
<p>Ví dụ, chúng ta có biến số giới tính (a2a) với giá trị 1=nam và 2=nữ. Giả sử chúng ta muốn đổi thành biến số dummy (có giá trị “0″ và “1″), chúng ta có thể thay đổi mã số của nữ từ 2 thành 0 như sau:</p>
<p>transform=&gt;recode=into same varriables…</p>
<p>Chúng ta chọn biến “giới tính”, ấn vào phím “old and new values…” để xác định giá trị nào trong biến số này sẽ được thay bằng giá trị mới. Một cửa sổ con sẽ hiện ra.</p>
<p>Chúng ta viết 2 vào ô “old value” và “0″ vào ô “New value”, rồi ấn “add”. Đối với các biến số có nhiều giá trị và chúng ta muốn thay nhiều giá trị, chúng ta có thể lặp lại điều này bao nhiêu lần tùy thích. Sau đó, chúng ta ấn “continue”, ta sẽ quay về cửa sổ recode ban đầu, ấn OK, biến số “giới tính” sẽ có giá trị mới là 0=nữ và 1=nam.</p>
<p>Tạo biến mới bằng lệnh recode:<br />
Giả sử chúng ta cần tạo ra một biến số có các nhóm tuổi. Chúng ta đã có biến số “tuổi”, chúng ta muốn nhóm các độ tuổi lại thành “dưới 30 tuổi”, từ 30-50 tuổi” và “trên 50 tuổi”. Chúng ta làm như sau:</p>
<p>transform=&gt;recode=into different varriables…</p>
<p>Chúng ta chọn biến “tuoi”, ở ô “output variable” chúng ta đặt tên cho biến mới (agegrp) và gán nhãn cho biến mới (nhom tuoi nguoi duoc hoi). ấn “old and new values…” chúng ta sẽ thấy một cửa sổ con:</p>
<p>Chúng ta chọn “range” rồi lần lượt điền range từ “0 through 29″ và gán cho giá trị mới (new value) bằng 1, ấn “add”, sau đó lại gán range từ “30 through 50″ với giá trị mới bằng 2, ấn “add”, rồi chọn range “51 through highest” gán giá trị 3, ấn “add”. Nhớ là chúng ta có 8 trường hợp không có giá trị ở biến tuổi (missing), do đó chúng ta phải chọn “system-missing” ở cả biến cũ và biến mới (không thay đổi).</p>
<p>Sau đó, ấn “continue” để trở về cửa sổ ban đầu, ấn “change” ở phía dưới của biến mới, rồi ấn “OK” để tạo biến mới (nhóm tuổi) từ biến cũ (tuổi).</p>
<p>Chúng ta chạy tần số (frequencies) với biến agegrp để xem kết quả.</p>
<p><b>Phân tích sơ bộ:</b></p>
<p>Lệnh frequencies:   cho tần số của các phương án trả lời, tỷ lệ phần trăm, tỷ lệ phần trăm lũy tiến.</p>
<p><b>Lệnh này có thể đi kèm một số đại lượng thống kê như:</b><br />
Giá trị trung bình<b> (mean): </b>bằng tổng các giá trị chia cho số trường hợp<br />
<b>Median:</b> giá trị của biến số mà theo đó có đúng một nửa số trường hợp có giá trị cao hơn và đúng một nửa số trường hợp có giá trị thấp hơn.<br />
<b>Mode:</b> giá trị của biến số với giá trị tuyệt đối lớn nhất<br />
<b>Sum:</b> Tổng các giá trị của các trường hợp<br />
<b>Quartiles: </b>giá trị chia các trường hợp ra thành 4 nhóm có số lượng bằng nhau<br />
<b>cut points for # equal groups:</b> giá trị chia các trường hợp ra thành # nhóm có số lượng bằng nhau.<br />
<b>Std deviation:</b> độ lệch chuẩn, cho biết độ phân tán của số liệu so với giá trị trung bình<br />
<b>Variance:</b> bằng độ lệch chuẩn bình phương<br />
<b>range:</b> khoảng từ giá trị nhỏ nhất đến giá trị lớn nhất<br />
<b>minimum và maximum: </b>giá trị nhỏ nhất và giá trị lớn nhất<br />
<b>SE mean:</b> giá trị trung bình của sai số chuẩn<br />
<b>Skewness:</b> độ lệch khỏi vị trí đối xứng của phân bố các giá trị của các trường hợp</p>
<p><b>2Viết lệnh trong syntax window:</b></p>
<p>Những dòng bắt đầu bằng dấu * được xem là dòng bình luận chứ không phải dòng lệnh và khi chạy spss sẽ không tính đến những dòng này. Đặc điểm này thường được dùng để viết những chú thích lẫn trong các chương trình spss.</p>
<p>**Mọi lệnh của spss đều bắt đầu từ đầu dòng và kết thúc bằng dấu chấm.</p>
<p>**Chuẩn bị số liệu là rất quan trọng. Chuẩn bị số liệu gồm những lệnh cơ bản sau:</p>
<p>*Lệnh “set length” để đặt trang trong output window.</p>
<p>set length=1000.</p>
<p>freq var b3n5.</p>
<p>*Lệnh “display” để tìm hiểu các biến số trong file (số lượng, tên, nhãn, biến số hay chữ, tạo codebook).</p>
<p>display.</p>
<p>display labels.</p>
<p>display dictionary.</p>
<p>**Lệnh “recode’ để thay giá trị này bằng giá trị khác của biến số.</p>
<p>recode b3n1 (5=2)(2=5)(3=1)(1=4)/a2 (1=3)(3=1)/b3n5 (sysmis=14).<br />
freq var b3n5.</p>
<p>recode b3n1 b3n2 b3n3  b3n4 (5=2)(2=5)(3=1)(1=4).</p>
<p>*Lệnh “rename” đổi tên biến.</p>
<p>rename var (b3n1=loi).</p>
<p>*Lệnh “variable label” và “value label”:</p>
<p>variable label b3n1 ‘Quan he cua nguoi thu 1 voi chu ho’/b3n2 ‘Quan he cua nguoi thu 2 voi chu ho’<br />
/b3n3 ‘Quan he cua nguoi thu 3 voi chu ho’.<br />
value label b3n1 b3n2 b3n3 b3n4 1 ‘nguoi duoc hoi’ 2 ‘chong’ 3 ‘con de’ 4 ‘con nuoi’/a2 1 ‘HCMC’ 2 ‘Hanoi’ 3 ‘Ha Tay’.</p>
<p>*Lệnh ‘compute’ là lệnh tạo biến mới. Lệnh này thường đi với lệnh ‘if’.<br />
freq var b5n1.</p>
<p>compute b5n1new=1.</p>
<p>**Đến đây, biến b5n1new có mọi trường hợp có giá trị 1. Để chia khoảng làm như sau:<br />
**Chú thích: các ký hiệu logic: &gt;&lt;=,   &gt;= tuong duong voi ‘ge’ (greater or equal), ‘gt’ (greater), ‘le’ (less or equal), ‘lt’ (&lt;=), ‘ne’ (not equal)<br />
.<br />
**Chú ý: “and” (cả 2 điều kiện phải thỏa mãn), “or” (một trong hai điều kiện thỏa mãn).<br />
**if ((x ge 200 and y&lt;15) and (a&gt;1950 or b&lt;2000)).</p>
<p>if (b5n1&gt;1974 and b5n1&lt;1980) b5n1new=2.<br />
if (b5n1&gt;1979 and b5n1&lt;1986) b5n1new=3.<br />
if (b5n1&gt;1985) b5n1new=4.</p>
<p>variable label b5n1new ‘Nam sinh cua nguoi thu 1′.<br />
value label b5n1new 1 ‘Sinh truoc 1975′ 2 ‘1975-79′ 3 ‘1980-85′ 4 ‘Sinh sau 1985′.<br />
freq var b5n1new.</p>
<p>** Có thể tạo biến thẳng bằng một loạt lệnh “if”.</p>
<p>if (b5n1&lt;1975) b5n1new=1.<br />
if (b5n1&gt;1974 and b5n1&lt;1980) b5n1new=2.<br />
if (b5n1&gt;1979 and b5n1&lt;1986) b5n1new=3.<br />
if (b5n1&gt;1985) b5n1new=4.</p>
<p>**Cũng có thể tạo biến mới bằng lệnh recode:</p>
<p>recode age (1 thru 10=1)(11 thru 20=2)(21 thru hi=3) into nhomtuoi.<br />
variable label nhomtuoi ‘Nhom tuoi cua nguoi duoc hoi’.<br />
value label nhomtuoi 1 ‘1-10’ 2 ’11-20’ 3 ‘21+’.<br />
freq var nhomtuoi.</p>
<p>**Lệnh “temporary” và “select if”: để lựa chọn một số ca có đặc thù nào đó để phân tích chứ không phân tích tất cả các ca.<br />
**Lệnh “temporary” làm cho lệnh “select if” chỉ có tác dụng đối với một thủ tục thống kê đi kèm ngay sau đó.<br />
**Nếu dùng lệnh “select if” mà không có “temporary” thì máy tính sẽ xóa tất cả những ca không thoả mãn điều kiện trong lệnh “select if”.</p>
<p>temporary.<br />
select if (a2=3).<br />
freq var a2 b5n1new.</p>
<p>freq var a2.</p>
<p>temporary.<br />
select if (a2 ne 3).<br />
freq var a2 b5n1new.</p>
<p>freq var a2 b5n1new.</p>
<p>**Lệnh “count” để tính số lượng biến số của mỗi ca có cùng một giá trị nào đó. Lệnh này rất lợi hại khi dùng để xây dựng index.</p>
<p>count socon=b3n1 b3n2 b3n3 b3n4 b3n5 b3n6 b3n7 b3n8 b3n9 b3n10 (3, 4).<br />
variable label socon ‘So con song cung trong ho’.<br />
freq var socon.</p>
<p>*Lệnh frequencies variables:</p>
<p>freq var b5n1/format=notable/stat=mean.</p>
<p>freq var b5n1.</p>
<p>**Lệnh crosstab:</p>
<p>crosstab tables=b5n1new by a2/cell=count row column/stat=chi.</p>
<p>**Bỏ 2 biến</p>
<p>save outfile=’c:\loi\tam.sav’/drop var20 var30.</p>
<p>**Thay đổi trật tự các biến trong tệp dữ liệu, giữ nguyên các biến khác.</p>
<p>save outfile=’c:\loi\tam.sav’/keep var100 var50 all.</p>
<p>**Chỉ giữ lại 2 biến:</p>
<p>save outfile=’c:\loi\tam.sav’/keep var100 var50.</p>
<p>**Thay tên biến trong tệp mới.</p>
<p>save outfile=’c:\loi\tam.sav’/rename (varcu=varmoi)(varcu1=varmoi1).</p>
<p>Thi du:</p>
<p>save outfile=’c:\tam1.sav’/keep b1n1 b2n1 b3n1 b4n1 b5n1/rename (b1n1=b1n)(b2n1=b2n)(b3n1=b3n)(b4n1=b4n)(b5n1=b5n).</p>
<p>save outfile=’c:\tam2.sav’/keep b1n2 b2n2 b3n2 b4n2 b5n2/rename (b1n2=b1n)(b2n2=b2n)(b3n2=b3n)(b4n2=b4n)(b5n2=b5n).</p>
<p>**Sau do vao menu data=&gt;merge file=&gt;add cases để tạo file mới.</p>
<p align="right">maneih &#8211; tamlyhoc.net</p>
<img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/categories/lethanhha78.wordpress.com/9/" /> <img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/tags/lethanhha78.wordpress.com/9/" /> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/lethanhha78.wordpress.com/9/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/lethanhha78.wordpress.com/9/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/lethanhha78.wordpress.com/9/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/lethanhha78.wordpress.com/9/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/lethanhha78.wordpress.com/9/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/lethanhha78.wordpress.com/9/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/lethanhha78.wordpress.com/9/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/lethanhha78.wordpress.com/9/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/lethanhha78.wordpress.com/9/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/lethanhha78.wordpress.com/9/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lethanhha78.wordpress.com&blog=3320940&post=9&subd=lethanhha78&ref=&feed=1" /></div>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/03/31/h%c6%b0%e1%bb%9bng-d%e1%ba%abn-s%e1%bb%ad-d%e1%bb%a5ng-spss-v12/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/57b2b0783f1c7e9f50d45a7ef6e580d9?s=96&#38;d=identicon" medium="image">
			<media:title type="html">lethanhha78</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>PHƯƠNG PHÁP TRÌNH BÀY BÁO CÁO KHOA HỌC</title>
		<link>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/03/31/ph%c6%af%c6%a0ng-phap-trinh-bay-bao-cao-khoa-h%e1%bb%8cc/</link>
		<comments>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/03/31/ph%c6%af%c6%a0ng-phap-trinh-bay-bao-cao-khoa-h%e1%bb%8cc/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 31 Mar 2008 12:03:40 +0000</pubDate>
		<dc:creator>lethanhha78</dc:creator>
				<category><![CDATA[Phương pháp NCKH]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://lethanhha78.wordpress.com/2008/03/31/ph%c6%af%c6%a0ng-phap-trinh-bay-bao-cao-khoa-h%e1%bb%8cc/</guid>
		<description><![CDATA[(Trung tâm CNTT sưu tầm, thấy hay nên dịch, không rõ nguồn gốc. 1998)
Trình bày báo cáo khoa học không phải là một việc dễ dàng. Trong bài này chúng ta sẽ đưa ra một vài điểm cần lưu ý khi trình bày một báo cáo khoa học.

1. Thế nào là một báo cáo khoa [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lethanhha78.wordpress.com&blog=3320940&post=8&subd=lethanhha78&ref=&feed=1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div class='snap_preview'><br /><p><i>(Trung tâm CNTT sưu tầm, thấy hay nên dịch, không rõ nguồn gốc. 1998)</i></p>
<p>Trình bày báo cáo khoa học không phải là một việc dễ dàng. Trong bài này chúng ta sẽ đưa ra một vài điểm cần lưu ý khi trình bày một báo cáo khoa học.</p>
<p><span id="more-8"></span></p>
<p>1. Thế nào là một báo cáo khoa học</p>
<p>Một bản báo cáo khoa học là một bài thuyết trình khoảng 30 – 60 phút, trước một nhóm người có trình độ cao, khả năng tiếp cận vấn đề nhanh. Tuy nhiên họ có thể chưa biết thật rõ ràng, tường tận về vấn đề mà bản báo cáo đề cập đến.</p>
<p>Bài viết này được rút ra từ những kinh nghiệm bản thân của tác giả qua những buổi hội thảo thuộc lĩnh vực Khoa học máy tính (Computer Science). Phương pháp, cách thức trình bày một bản báo cáo khoa học hoàn toàn khác với cách trình bày những báo cáo thương mại mà chúng ta vẫn thấy. Lý do chính của sự khác biệt này là ở mục đích và nội dung báo cáo.</p>
<p>Bài viết này không có tham vọng đưa ra một khuôn mẫu hoặc giải đáp tất cả thắc mắc của mọi người, tuy nhiên chúng tôi hy vọng đưa ra một số tiêu chí chung. Những tiêu chí này có thể không phải hữu ích với tất cả mọi người, vì vậy người đọc hãy lựa chọn lấy những tiêu chí phù hợp và bỏ qua những tiêu chí còn lại.</p>
<p>2. Nên trình bày những gì trong một báo cáo khoa học?</p>
<p>Trong công việc, hãy coi những báo cáo, những buổi nói chuyện khoa học là thước đo để đánh giá quá trình nghiên cứu, tìm tòi của mỗi cá nhân. Trước khi quyết định cần trình bày vấn đề gì, hãy trả lời hai câu hỏi sau:</p>
<p>· Ai là đối tượng chính của buổi báo cáo?</p>
<p>· Nếu như ai đó chỉ nhớ được một vấn đề duy nhất trong bản báo cáo, chúng ta muốn đó là vấn đề nào?</p>
<p>Câu trả lời cho hai câu hỏi trên chính là những tiêu chuẩn để chúng ta chuẩn bị nội dung của bản báo cáo, để quyết định đề cập và không đề cập tới vấn đề nào. Một điều ghi nhớ nữa là hãy đưa ra câu trả lời của câu hỏi thứ hai cho người nghe.</p>
<p>2.1. Sử dụng các ví dụ</p>
<p>Công việc nghiên cứu của chúng ta luôn xuất phát từ thực tế. Sau khi giải quyết một loạt các vấn đề có liên quan với nhau, chúng ta đưa ra một phương pháp chung, tổng quát hoá, trừu tượng hoá giải pháp đã tìm được và đưa ra một lý thuyết chung.</p>
<p>Ví dụ, khi tìm hiểu một hàm số để xác định cách mà hàm số đó tính toán dựa trên các đối số đầu vào, trước hết ta đi giải thích hàm số đó bằng lời, sau đó chúng ta tổng quát hoá bằng các lời giải thích trừu tượng.</p>
<p>Một lỗi trầm trọng mà chúng ta thường mắc phải đó là chỉ đưa ra các phương pháp chung, các định nghĩa trừu tượng mà quên mất các ví dụ dẫn dắt tới kết quả đã nghiên cứu. Nhiều bản báo cáo khoa học trở nên quá trừu tượng, diễn giả trình bày hết slide nọ tới slide kia, trong khi đó không đưa ra các ví dụ minh hoạ cho vấn đề đang nói, vì thế hiệu quả thu được không cao.</p>
<p>Ví dụ là một phần quan trọng của các bản báo cáo khoa học để minh hoạ cho chủ đề mà ta đề cập tới. Khi đưa ra một định nghĩa, một cấu trúc toán học hoặc một ký hiệu mới chúng ta cần đưa ra các ví dụ để người nghe có thể hình dung và hiểu được nó. Khi đưa ra một lý thuyết mới, ta cần sử dụng các ví dụ để có thể giúp người nghe hiểu được ý nghĩa của nó trong thực tế.</p>
<p>Các bài viết cần phải đi sâu vào chi tiết một cách cụ thể, giải thích một cách rõ ràng, đầy đủ vấn đề cần trình bày kèm theo các ví dụ minh hoạ. Ngược lại, một buổi báo cáo không phải là công cụ để chúng ta trình bày chi tiết, mà nó chỉ có tác dụng trình bày đại thể và thuyết phục người nghe đọc bài viết của chúng ta. Một buổi báo cáo khoa học lại càng không phải là lúc để diễn giả thể hiện sự uyên thâm hay trình độ của mình.</p>
<p>Sử dụng các ví dụ minh hoạ trong báo cáo là mục đích chính của bài viết này vì rất nhiều báo cáo đã thất bại bởi lý do không được minh hoạ một cách rõ ràng. Trong khi chuẩn bị, hãy luôn đặt câu hỏi: “Vấn đề/ định nghĩa/ lý thuyết/ thuật toán/ công nghệ này đã được minh hoạ rõ ràng bằng các ví dụ chưa?”.</p>
<p>2.2. Không nên nói quá nhiều</p>
<p>Cần lưu ý khi trình bày một báo cáo khoa học là không nên tập trung quá nhiều vào các chi tiết hay một vấn đề nào đó, chỉ nên nói vừa đủ, sao cho toát lên được ý chính của vấn đề cần nói. Không nên làm cho người nghe phải thu nhận quá nhiều thông tin, lúc đó vấn đề sẽ trở nên nhàm chán và không mang lại hiệu quả như mong muốn. Cách tốt nhất để tránh khỏi lỗi trên là không áp dụng một công thức, một cách trình bày cứng nhắc cho bản báo cáo: tập trung sâu hơn vào một số khía cạnh, lướt hoặc bỏ qua một số khía cạnh khác, …</p>
<p>Trong quá trình báo cáo, nếu vì lý do thời gian ta nên tập trung vào một vài phần và bỏ qua các phần khác. Như thế sẽ tốt hơn là đưa ra tất cả ý chính một cách sơ lược mà không đi sâu vào các chi tiết hoặc trình bày vượt quá thời gian cho phép. Nếu thực hiện theo cách thứ hai, người nghe sẽ không thu nhận được những thông tin bổ ích hoặc cảm thấy chán ngấy.</p>
<p>Đối tượng chính trong buổi báo cáo là người nghe và mục đích của chúng ta là làm cho họ nắm được vấn đề đề cập tới. Trong số người nghe tham dự, không phải tất cả đều biết rõ về vấn đề được báo cáo, một số thậm chí còn không nắm được một chút thông tin nào. Vì vậy việc giới thiệu sơ qua toàn bộ báo cáo và những nội dung sẽ trình bày là một việc làm cần thiết, tuy nhiên ta chỉ nên dành một vài phút cho việc này và sau đó đi thẳng vào các vấn đề liên quan.</p>
<p>Một điều cần ghi nhớ là nếu chúng ta làm cho người nghe cảm thấy nhàm chán ngay ở những phút đầu thì việc lấy lại hứng thú cho họ là gần như không thể.</p>
<p>2.3. Trình bày một cách thẳng thắn</p>
<p>Khi trình bày một bản báo cáo khoa học không nên dấu đi những khó khăn gặp phải trong quá trình nghiên cứu. Làm như vậy không trung thực và hơn nữa không hiệu quả. Khi nêu ra những khó khăn, vướng mắc gặp phải, một số người nghe có thể cho ta những gợi ý, giải pháp hợp lý mà ta chưa hề nghĩ tới.</p>
<p>3. Tính trực quan của báo cáo</p>
<p>Tính trực quan của một bản báo cáo là hết sức quan trọng, nó quyết định thành công của chúng ta. Khi trình bày nên sử dụng các công cụ như máy chiếu phim trong (Overhead projector), máy chiếu Multimedia (Multimedia Projector) và đôi khi là phim video. Trong khoảng thời gian báo cáo, sử dụng bảng với phấn hoặc bút viết là không nên bởi như vậy sẽ mất nhiều thời gian và không thuận tiện. Ta nên sử dụng máy chiếu Multimedia (nối trực tiếp với máy tính), nếu không có thì dùng máy chiếu phim trong. Bảng viết chỉ sử dụng để hỗ trợ khi ta cần viết hoặc minh hoạ thêm một vài ví dụ.</p>
<p>Trong trường hợp chúng ta cần sử dụng nhiều thiết bị (máy chiếu phim trong, máy chiếu Multimedia, phim Video), nên hạn chế sự thay đổi giữa các thiết bị này. Lý do là tiết kiệm thời gian và không làm phân tán sự tập trung của người nghe.</p>
<p>3.1. Công nghệ</p>
<p>Nên sử dụng các phim trong viết tay thay thế máy bắn chữ hoặc các công nghệ khác, trừ trường hợp chữ viết của ta quá xấu. Sử dụng phim viết tay có một số lợi điểm sau:</p>
<p>· Nếu địa điểm báo cáo ở xa, ta không cần phải chuẩn bị toàn bộ phim dùng cho báo cáo trước chuyến đi. Do viết bằng tay nên ta có thể xắp xếp thời gian trống để chuẩn bị phim.</p>
<p>· Sử dụng màu sắc dễ dàng, phong phú hơn.</p>
<p>· Dễ dàng vẽ các biểu đồ, đồ thị, thêm vào các mũi tên, hình vẽ, … Những công việc này có thể làm bằng máy tính, tuy nhiên sẽ chậm hơn (chuẩn bị trên máy tính, rồi mới in ra phim trong).</p>
<p>· Máy bắn chữ tuy tỏ ra tiện dụng, xong thời gian mà chúng ta tiêu phí khi sử dụng nó sẽ không được dành cho nội dung của báo cáo.</p>
<p>· Cần giới hạn nội dung của một phim. Không nên nhiều quá và không nên ít quá. Nếu quá nhiều, người nghe sẽ rất khó nhìn thấy những gì mà chúng ta thể hiện trên phim. Nếu quá ít, hiệu quả báo cáo sẽ không cao.</p>
<p>· Trong trường hợp không dùng phim viết bằng tay, ta nên dùng Font chữ với co chữ to, ít nhất là 17 để người nghe dễ đọc.</p>
<p>· Nếu dùng náy tính để chuẩn bị phim trong cho báo cáo, ta cần bỏ thời gian nhiều hơn để chuẩn bị trước tất cả những phim dự định sẽ dùng, tuy nhiên hiệu quả thu lại là các hình vẽ, chữ, … đẹp hơn.</p>
<p>Ngoài cách dùng phim trong, ta cũng có thể sử dụng các phương tiện khác, chẳng hạn sử dụng máy tính nối trực tiếp vào máy chiếu Multimedia.</p>
<p>Nên dùng bút không xoá được (Permanent Ink) để viết phim trong. Loại bút này có hai ưu điểm: không bị mờ, bị xoá khi gặp nước (đề phòng trường hợp bị ướt phim) và màu sắc của nó đỡ chói hơn. Khi sử dụng loại bút này ta vẫn có thể sửa các lỗi bằng cách dùng loại tẩy dành riêng cho nó.</p>
<p>Nên sử dụng loại giấy thông thường để ghi những ghi chú, chú ý dành riêng cho diễn giả (chúng ta) trong khi nói. Những mảnh giấy này có tác dụng nhắc chúng ta những điểm cần trình bày, không có tác dụng đối với người nghe và được chuẩn bị trước khi báo cáo. Không nên dùng những tờ giấy pơ-luya đi kèm với phim vào mục đích này.</p>
<p>Nên viết phim theo chiều ngang (Landscape), như vậy chúng ta có thể viết chữ to hơn, dễ đọc hơn và giới hạn được lượng thông tin trên mỗi phim.</p>
<p>Sử dụng màu hoặc một số vật để che, phủ khi trình bày các ví dụ phức tạp sẽ tăng được hiệu quả. Trong một ví dụ phức tạp, đôi khi ta muốn dấu đi một vài phần hoặc nhấn mạnh một phần nào đó để tập trung sự chú ý của người nghe hoặc thể hiện quá trình thay đổi. Việc làm như vậy sẽ thu hút sự chú ý của người nghe (không bị phân tán bởi những phần chưa cần thiết, không phải đổi sang một phim mới), nhấn mạnh một số ý (tô màu hoặc chỉ hiển thị những phần cần thiết) và không phải chuẩn bị thêm phim trong.</p>
<p>3.2. Đưa những gì lên phim trong</p>
<p>Khi chuẩn bị phim chiếu (slide) cần lưu ý rằng thông tin mà người nghe thu nhận được từ chúng là rất ít. Vì vậy sáu hoặc bảy mục trên một slide là quá đủ. Điểm thứ hai là các phim chiếu không nên lặp lại những gì mà chúng ta sẽ nói, nó chỉ có tác dụng nhấn mạnh. Khi trình bày, tuyệt đối không đọc nguyên văn những gì viết trên phim chiếu mà chỉ nên nói về chúng mà thôi. Không có gì làm cho người nghe chán ngấy hơn là phải nghe diễn giả đọc chính tả lại những gì đã viết trên phim chiếu. Để tăng hiệu quả, chúng ta có thể copy những phim chiếu vào giấy và phát cho người nghe.</p>
<p>Thông thường, chúng ta hay bắt đầu bằng một phim chiếu liệt kê tất cả những nội dung, đề mục sẽ nói tới trong buổi báo cáo. Tuy nhiên, việc làm này làm chúng ta tốn mất một vài phút quý báu và người nghe sau đó chưa chắc đã nhớ hay hiểu thêm được chút nào. Đừng bao giờ đưa vào buổi báo cáo một phần trình bày gọi là “Giới thiệu” hoặc “Kết luận”. Tuy nhiên ta hiểu rằng đó là hai phần không thể thiếu được của một buổi báo cáo.</p>
<p>Trong buổi báo cáo, ta nên dùng những phim chiếu mô tả sơ lược vấn đề sẽ trình bày, chẳng hạn “Đây là vấn đề mà tôi sẽ trình bày và chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về nó”. Nó có tác dung định hướng lại tư duy của người nghe, tập trung họ vào vấn đề mà chúng ta sẽ trình bày, gợi nhớ cho họ về những câu hỏi sẽ dành cho chúng ta và hơn nữa, đó là một cách giới thiệu nhẹ nhàng, gián tiếp vấn đề sẽ nói tới. Còn một cách nữa để giới thiệu về nội dung sẽ trình bày là dùng một phim chiếu thể hiện tiêu đề của phần sẽ nói.</p>
<p>3.3. Chuẩn bị phim chiếu</p>
<p>Không nên chuẩn bị phim chiếu quá sớm. Đây là một thói quen và cách làm nên sửa đổi, nó chỉ làm cho khoảng thời gian rỗi của chúng ta nhiều thêm mà thôi. Thông thường chúng ta bắt đầu nghiền ngầm, suy nghĩ về vấn đề sẽ trình bày khoảng 1 hoặc 2 tuần trước buổi báo cáo. Tuy nhiên, chỉ nên chuẩn bị phim chiếu vào ngay buổi tối hôm trước. Điều này làm cho chúng ta nhớ và nắm rất chắc nội dung sẽ trình bày vào ngày hôm sau, mặc dù tất cả những gì cần nói có thể đã được chuẩn bị trước đó khá lâu.</p>
<p>Hãy loại bỏ tất cả những gì còn đọng lại trong đầu bạn từ buổi báo cáo gần đây nhất: nội dung đã trình bày, những phim chiếu cũ, … Đôi khi nội dung của những phim chiếu đó không còn phù hợp nữa và nếu ta còn nhớ tới chúng thì sẽ có một xu hướng là nội dung trong buổi báo cáo được lặp lại gần như hoàn toàn.</p>
<p>4. Trình báy báo cáo</p>
<p>4.1. Hồi hộp</p>
<p>Nếu không cảm thấy hồi hộp một chút nào, đặc biệt là trước rất nhiều người không quen biết, có lẽ bạn là một người không bình thường. Chúng tôi đã tổ chức hàng trăm buổi hội thảo, báo cáo khoa học nhưng cảm giác hồi hộp trước mỗi lần đều không thể nào loại bỏ. Mỗi khi như vậy, hãy cố gắng đứng thẳng, thở sâu, thậm chí tập một bài thể dục nhẹ. Tuy nhiên đừng hy vọng rằng bạn sẽ hoàn toàn lấy lại được bình tĩnh. Nhớ rằng ngay cả những người vừa trình bày báo cáo trước bạn cũng thế thôi, họ không thoát khỏi được cái cảm giác đó.</p>
<p>Trong khi nói, nên hướng ánh mắt về phía người nghe và tốt nhất là nhìn thẳng vào mắt một vài người. Làm như vậy bạn sẽ tự tin hơn và người nghe cũng cảm thấy dễ chịu hơn; họ được mời tham dự một cuộc nói chuyện, một cuộc bàn luận chứ không phải tới chỉ để nghe.</p>
<p>4.2. Trình bày phim trong đã chuẩn bị</p>
<p>Một vài người khi trình bày hay sử dụng một tờ giấy che một phần phim trong, sau đó họ cho hiện dần từng dòng hoặc từng phần một. Trong một số trường hợp, cách làm như vậy là đúng và nên làm. Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều sử dụng cách này và nó gần như trở thành một thói quen cố hữu. Làm như vậy có thể giúp người nghe tập trung vào phần mà ta trình bày, tuy nhiên nó làm cho người nghe không cảm thấy thoải mái. Họ nghĩ rằng bạn không tin tưởng họ, bạn sợ rằng họ không tập trung vào báo cáo đang trình bày. Nếu có ý định sử dụng phương pháp này, hãy cân nhắc xem một phim trong có thể chia thành nhiều phim được không.</p>
<p>Có một số trường hợp ngoại lệ: khi muốn nhấn mạnh rằng vấn đề trình bày gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau hoặc để làm nổi bật điểm nút của vấn đề, ta nên sử dụng thủ thuật nói trên.</p>
<p>Ghi nhớ nên làm cho các phần của phim chiếu càng rõ ràng, càng nhìn thấy nhiều càng tốt. Vì vậy không nên đóng các phim trong thành một quyển, không nên dùng các kẹp lò xo (ring binder) để chứa phim, đặc biệt là mở-đóng chúng sau mỗi lần lấy ra, không nên tắt/bật máy chiếu mỗi khi chuyển đổi phim. Những động tác trên sẽ làm người nghe cảm thấy bản báo cáo bị gián đoạn, không thành một mạch liên tục.</p>
<p>Lý do để chúng ta sử dụng máy chiếu là giúp cho người nghe nhìn được nhiều nhất, vì vậy đừng làm cản trở tầm nhìn của họ. Để tránh điều này nên đặt máy chiếu một cách hợp lý, không trỏ trực tiếp vào phim trong mà nên trỏ trên màn hình. Nếu trong một phòng họp lớn, hãy sử dụng que hoặc bút trỏ nhưng chú ý là không nên chạm vào màn chiếu. Làm như vậy màn chiếu sẽ rung và làm cho người nghe khó chịu.</p>
<p>4.3. Thời gian</p>
<p>Không được nói quá thời gian cho phép. Làm như thế là ích kỉ và không lịch sự. Nói quá dài, chúng ta sẽ bị người dẫn chương trình cắt ngang, hoặc làm cho những người còn lại phải nói ngắn gọn hơn, hoặc làm cho buổi hội thảo kết thúc muộn. Trong mọi trường hợp, sự chú ý của người nghe là có giới hạn và những gì chúng ta cố nói thêm sẽ không hữu ích.</p>
<p>Những người có kinh nghiệm thường đặt thời gian trình bày cho mỗi phim chiếu; thông thường là 2 hoặc 3 phút. Khi đó ta ngầm đặt một điểm mốc trong mỗi phim và mỗi lần nói tới mốc đó ta lại kiểm tra thời gian bằng đồng hồ một lần.</p>
<p>Nên thêm một vài phim chiếu ở cuối, đề phòng trường hợp kết thúc quá sớm ta sẽ dùng tới chúng. Tuy nhiên tốt nhất là sắp xếp thời gian nói sao cho vừa đủ, không phải dùng tới những phim chiếu “câu giờ” này.</p>
<p>5. Kết luận</p>
<p>Như đã trình bày ở đầu bài viết, đây hoàn toàn là những kinh nghiệm chúng tôi rút ra từ thực tế, do đó nó có thể có ích đối với một vài người và hoàn toàn vô nghĩa đối với một vài người khác. Dù sao chúng tôi cũng mong rằng bài viết này đem lại một chút lợi ích nào đó cho người đọc. Chúng ta hãy lựa chọn những gì phù hợp và bỏ qua những cái còn lại. Điểm quan trọng nữa là hãy vận dụng những gì ta có được một cách linh hoạt. Hy vọng rằng những kỹ năng đã trình bày sẽ đem lại người đọc những thành công nhất định trong việc trình bày các báo cáo khoa học.</p>
<p>Quách Tuấn Ngọc.<br />
Cục trưởng Cục CNTT, Bộ GD và ĐT</p>
<img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/categories/lethanhha78.wordpress.com/8/" /> <img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/tags/lethanhha78.wordpress.com/8/" /> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/lethanhha78.wordpress.com/8/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/lethanhha78.wordpress.com/8/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/lethanhha78.wordpress.com/8/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/lethanhha78.wordpress.com/8/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/lethanhha78.wordpress.com/8/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/lethanhha78.wordpress.com/8/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/lethanhha78.wordpress.com/8/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/lethanhha78.wordpress.com/8/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/lethanhha78.wordpress.com/8/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/lethanhha78.wordpress.com/8/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lethanhha78.wordpress.com&blog=3320940&post=8&subd=lethanhha78&ref=&feed=1" /></div>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/03/31/ph%c6%af%c6%a0ng-phap-trinh-bay-bao-cao-khoa-h%e1%bb%8cc/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/57b2b0783f1c7e9f50d45a7ef6e580d9?s=96&#38;d=identicon" medium="image">
			<media:title type="html">lethanhha78</media:title>
		</media:content>
	</item>
		<item>
		<title>Tài liệu đáng tham khảo trước khi bắt tay vào viết báo cáo khoa học</title>
		<link>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/03/30/hello-world/</link>
		<comments>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/03/30/hello-world/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 30 Mar 2008 11:57:51 +0000</pubDate>
		<dc:creator>lethanhha78</dc:creator>
				<category><![CDATA[Phương pháp NCKH]]></category>

		<guid isPermaLink="false"></guid>
		<description><![CDATA[Năm 2003 tôi có làm luận án thạc sĩ. Có một điều thực tế là các anh chị nghiên cứu nhiều vấn đề rất phức tạp nhưng khi trình bày tài liệu thi luộm thuộm. Có rất nhiều sai sót trong việc trú thích trích dẫn, đánh số đầu mục vvv.
Tôi có làm một tài [...]<img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lethanhha78.wordpress.com&blog=3320940&post=1&subd=lethanhha78&ref=&feed=1" />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div class='snap_preview'><br /><p>Năm 2003 tôi có làm luận án thạc sĩ. Có một điều thực tế là các anh chị nghiên cứu nhiều vấn đề rất phức tạp nhưng khi trình bày tài liệu thi luộm thuộm. Có rất nhiều sai sót trong việc trú thích trích dẫn, đánh số đầu mục vvv.</p>
<p>Tôi có làm một tài liệu mẫu nhằm giúp các bạn dẽ dàng và chính xác trong việc trình bày báo cáo. Đây là tài liệu đươc định dạng chuẩn theo MicrosoftWord. Nếu báo cáo của bạn theo định dạng của tài liệu này thì việc canh trang, mục lục, tham khảo chéo, đánh số hình, bảng biểu, công thức sẽ trở nên đơn giản. Tất cả đều được tự động cập nhật mỗi khi bạn dàn trang lại.<br />
Tài liệu bao gồm :</p>
<p><b><i>Chương 1 : Mở đầu.</i></b></p>
<p><b><i>Chương 2 :Hình thức trình bày luận văn</i></b></p>
<p><b><i>Chương 3 : Một số kỹ thuật cho một văn bản khoa học.</i></b></p>
<p><b><i>Chương 4 : Kết luận. </i></b></p>
<p><b><i>Chương 5 : Phụ lục</i></b></p>
<p>Các bạn có thể tải tài liệu từ:<br />
<a href="http://www.viettechs.com/document/cachlambaocaokhoahoc.zip" target="_blank" title="http://www.viettechs.com/document/cachlambaocaokhoahoc.zip">http://www.viettechs.com/document/cachlambaocaokhoahoc.zip</a></p>
<p>Chúc các bạn thanh công.</p>
<p>Dương Quý Phương(edu.net.vn)</p>
<img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/categories/lethanhha78.wordpress.com/1/" /> <img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/tags/lethanhha78.wordpress.com/1/" /> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gocomments/lethanhha78.wordpress.com/1/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/comments/lethanhha78.wordpress.com/1/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godelicious/lethanhha78.wordpress.com/1/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/delicious/lethanhha78.wordpress.com/1/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/gostumble/lethanhha78.wordpress.com/1/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/stumble/lethanhha78.wordpress.com/1/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/godigg/lethanhha78.wordpress.com/1/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/digg/lethanhha78.wordpress.com/1/" /></a> <a rel="nofollow" href="http://feeds.wordpress.com/1.0/goreddit/lethanhha78.wordpress.com/1/"><img alt="" border="0" src="http://feeds.wordpress.com/1.0/reddit/lethanhha78.wordpress.com/1/" /></a> <img alt="" border="0" src="http://stats.wordpress.com/b.gif?host=lethanhha78.wordpress.com&blog=3320940&post=1&subd=lethanhha78&ref=&feed=1" /></div>]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://lethanhha78.wordpress.com/2008/03/30/hello-world/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
	
		<media:content url="http://1.gravatar.com/avatar/57b2b0783f1c7e9f50d45a7ef6e580d9?s=96&#38;d=identicon" medium="image">
			<media:title type="html">lethanhha78</media:title>
		</media:content>
	</item>
	</channel>
</rss>